Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2019

Gái Hà Thành dưới mắt trai Sài Gòn

 Gái Hà Thành dưới mắt trai Sài Gòn

<yd210201@yahoo.com>
Đến:Y D
29 thg 8 lúc 2:35





( Gái Hà nội hay gái Sài gòn , hay gái miền nào đi chăng nữa, cũng -  một thời - có cái  đẹp  tuyệt vời ! 
 Tuy nhiên , đấy là chuyện từ hơn 1/2 thế kỷ trước.   Ngày nay mọị việc đã thay đổi hết rồi . Có người nói rằng :"  người Việt Nam
 quốc nội - cả  Nữ  lẫn Nam - , sau này , nếu may mắn , sẽ cần 100 hay 200 năm để lấy lại được  tác phong  Hà nội trước 1954 và  Sài gòn trước 1975  " .
 Nghĩ là họ đã không nói quá đáng.  Bạn đừng buồn . Sự thật hay mất lòng ! )



Ly Le
Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con (trai ) ở  Sài Gòn.

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết… khiến tôi ngờ… bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.
Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.
Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,
Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là… ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…” Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.
Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội.. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

Giai nhân nan tái đắc
Trót yêu hoa nên dan díu với tình
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô… đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa. Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “à la mode” hái hoa, giẫm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn… tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập. Những năm sau 75, trong Sài Gòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ… cám ơn. Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ… cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.” Tôi cũng nhận ra sự “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số. Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm..

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn… di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…” Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Vũ Thế Thành.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

NHẠC XƯA

 NHẠC XƯA  

(Open link và chọn nhạc phẩm nào ưng ý, click vào đấy để save hoặc  nghe)
A picture containing indoor

Description automatically generated

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

Nghệ sĩ trước 75.




Subject:   Nghệ sĩ trước 75.



        Nghệ  sĩ  trước  75.

 
casi_ThanhLanhttps://photo-1-baomoi.zadn.vn/w700_r1/17/07/27/315/22858224/13_58456.jpgcid:image007.jpg@01D51584.EBFA8D70
Thanh Lan.
Danh ca Thanh Lan sinh năm 1948 tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, rồi ra Hà Nội, sau di cư vào Sài Gòn năm 1954. 
Thanh Lan học trường Pháp Saint Paul, rồi vào trường Marie Curie. Mặc dù yêu ca hát nhưng Thanh Lan vẫn đeo đuổi việc học, đậu Tú tài toàn phần Pháp, và tốt nghiệp Đại học Văn Khoa Sài Gòn ban Văn Chương Anh năm 1974.
Bà là một trong những Nghệ sĩ hiếm hoi thành công trên cả ba lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và sân khấu. Bà cũng là một trong những Ca sĩ tiêu biểu của nhạc trẻ Sài Gòn thời kỳ đầu, nổi tiếng với các ca khúc nhạc Pháp. Hai bản Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danser) và Đêm Tân Hôn (Oui Devant Dieu) là hai nhạc phẩm đã làm cho Thanh Lan nổi tiếng một thời Sài Gòn trước năm 1975. 
https://photo-1-baomoi.zadn.vn/w700_r1/17/07/27/315/22858224/8_36270.jpg https://photo-1-baomoi.zadn.vn/w700_r1/17/07/27/315/22858224/7_47127.jpghttps://photo-1-baomoi.zadn.vn/w700_r1/17/07/27/315/22858224/12_48979.jpg
Thanh Lan là Ca sĩ vượt biên mấy lần và bị bắt vào tù rất cực khổ. Có những đêm nằm trong trại tù, nền đất, mưa ướt cả người, lạnh và đói. Cô bị cấm hát vì tội vượt biên trong một thời gian dài.
Cuối năm 1993, Thanh Lan được mời sang Hoa Kỳ dự buổi ra mắt phim Tình Người của đạo diễn Lê Tuấn, và ở lại bằng cách xin tị nạn chính trị. Sự nghiệp rạng danh nhưng cuộc sống riêng tư của Thanh Lan lại không như ý muốn. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với một thiếu gia ở Sài Gòn, nhưng khi con gái vừa chào đời thì hai người cũng chia tay nhau vì không hợp. Suốt từ đó đến nay, bà một mình nuôi con và không lập gia đình.


cid:image008.jpg@01D51584.EBFA8D70Related imagecid:image019.jpg@01D5155B.15EBCD80
Bạch Yến.
Ca sĩ Bạch Yến (sinh 1942), tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh tại Sóc Trăng. Bà là một Ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn trước năm 1975. 
Bạch Yến trở nên nổi tiếng với ca khúc Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, khi chỉ vừa tròn 15 tuổi, và là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965.
Năm 1978, lúc 36 tuổi bà mới kết hôn. Sau đó bà định cư tại Paris, Pháp. Bà cùng chồng là nhà Nghiên cứu Trần Quang Hải đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam.


cid:image027.jpg@01D51546.64B7AA70cid:image033.jpg@01D51546.64B7AA70https://cafevannghe.files.wordpress.com/2010/04/cs-minh-hieu.jpg?w=132&h=196
http://vip.img.cdn.keeng.vn/medias/images/images_thumb/f_medias/singer/2012/05/minh-hieu-43722_310_310.jpgcid:image057.jpg@01D5157E.71BF6950
Minh Hiếu.
Minh Hiếu là một Ca sĩ của Lính. Bà chuyên chở những dòng nhạc Lính và đi sát với đời Lính, miễn khi nào tiền đồn cần bà có mặt thì bà đều dẹp mọi sinh hoạt văn nghệ ở Đại nhạc hội, phòng trà tại Saigon để đến đem tiếng hát của mình tới với nơi tiền đồn chiến tuyến. Bà nói bà ngưỡng mộ hình ảnh hào hùng của người Lính VNCH, nên bà muốn đem lòng của mình đến chia sẻ với những khổ cực của họ. Vì vậy, bà luôn được giới quân nhân quý mến và trân trọng và trong một dịp ở Quân đoàn 4 tại Sa Đéc, bà được vinh danh gắn lon "Hạ sĩ nhất danh dự" của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây là phần thưởng mà giới quân nhân đã dành cho Minh Hiếu để đáp lại những tình cảm và lòng thành của bà dành cho họ. Trong một cuộc phỏng vấn trên Asia thì bà nói: "Đây là phần thưởng mà Minh Hiếu yêu quý nhất trong đời của mình".
Về sau bà lập gia đình cùng với Trung tướng VNCH Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc. Sau khi kết hôn, ca sĩ Minh Hiếu rời sân khấu trong lúc hào quang đang chói rạng.  Sau năm 1975, bà định cư tại thành phố HoustonHoa Kỳ, thỉnh thoảng bà có góp mặt một số chương trình văn nghệ Đại nhạc hội của Trung tâm ASIA.



NSND Bạch Tuyết (sinh năm 1945) là ngưỠi duy nhất được mệnh danh là Cải lương chi bảo (Bảo vật của sân khấu cải lương).
Bạch Tuyết.
Bà sinh 24 tháng 12 năm 1945 tại làng Khánh Bình, Châu Ðốc. Từ thuở còn đi học đã bộc lộ năng khiếu ca, ngâm, thường được các thầy cô đưa lên trình diễn trong những đêm văn nghệ.
Mồ côi mẹ khi 9 tuổi, bà bắt đầu đi hát ở những nhà hàng ca nhạc. Cũng như những bạn cùng lứa, Bạch Tuyết rất hâm mộ Thanh Nga. Trong một lần gặp gỡ, Thanh Nga nhận xét rằng Bạch Tuyết rất có khiếu hát cải lương, lời khích lệ đó là một trong những động lực đưa bà đến với nghiệp hát xướng.
Tuy đi hát, nhưng bà lại rất thích đi học. Đang hát và nổi tiếng với Đoàn Thống Nhất, thì bà nghỉ nửa năm để ôn thi Tú Tài. Sau này, bà cũng nhiều lần đang hát thì nghỉ ngang như thế để đi học. Năm 1985 (40 tuổi), Bạch Tuyết bước vào giảng đường Đại học và có được bằng Cử nhân Ngữ văn.
Bà từng tìm cách quyên sinh 3 lần nhưng bất thành. Bà từng quy y Tam bảo Phật giáo với pháp danh Diệu Lộc.
Bà kết hôn lần đầu tiên với danh thủ bóng tròn Phạm Huỳnh Tam Lang năm 1967. Cuộc hôn nhân tan vỡ, nhưng sau này 2 người vẫn dành cho nhau những lời tốt đẹp.
Sau khi ly dị, cũng trong năm 1974, bà lập gia đình lần thứ 2 với ông Charles Đức, một Việt kiều quốc tịch Pháp. Hai người có với nhau 1 người con trai hiện đang làm việc ở Mỹ.


mỹ nhân Sài Gòn, mỹ nhân Sài Gòn xưa, Mỹ nữ Sài Gòn trước 1975mỹ nhân Sài Gòn, mỹ nhân Sài Gòn xưa, Mỹ nữ Sài Gòn trước 1975tyu phuong 2
Nguyễn Thị Túy Phượng.
Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ Tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui, và nữ Nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15, Tuý Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. 
Tỏa sáng từ cuộc thi Hoa hậu Đông Phương của hãng phim Đông Phương vào năm 1957, lúc cô vừa tròn 17 tuổi, nên về sau, biệt danh "Hoa hậu Đông Phương" gắn liền với cô từ đó. Sự nghiệp diễn xuất của Túy Phượng có thể nói là cực kỳ thành công trên cả điện ảnh và sân khấu kịch. Bà qua đời tại Sài Gòn vào ngày 13-11-2001 và được chồng lo an táng chu đáo, cẩn thận.


mỹ nhân Sài Gòn, mỹ nhân Sài Gòn xưa, Mỹ nữ Sài Gòn trước 1975mỹ nhân Sài Gòn, mỹ nhân Sài Gòn xưa, Mỹ nữ Sài Gòn trước 1975
Kim Vui.
Nghệ sĩ Kim Vui được gọi là Cô đào 'bốc lửa' nhất của điện ảnh Sài Gòn trước năm 1975. Bà chính là nữ Tài tử miền Nam Việt Nam đầu tiên mặc bikini xuất hiện trên màn ảnh rộng. Kim Vui cũng đã đoạt Giải thưởng năm 1971 dành cho nữ Tài tử Điện ảnh xuất sắc nhất với vai diễn trong phim Chân Trời Tím.
Từ trước năm 1975, cô đã thành lập một cửa hàng bán băng nhạc và một nhà in tọa lạc trên đường Nguyễn Cư Trinh góc đường Cống Quỳnh, phía bên hông rạp Hưng Đạo, không những thế, cô còn có những cuộc giao thương với ngoại quốc, mở hãng xuất nhập cảng, đặt văn phòng tại đường Trịnh Minh Thế, quận Tư, Sàigòn.
Nhưng quyết định đúng nhất của cô phải kể là đưa toàn bộ gia đình qua Hoa Kỳ định cư trước biến cố 30 tháng 4-75 xẩy ra, mặc dù các dịch vụ thương mại của cô ở Sài Gòn chưa được giải quyết ổn thỏa, nói rõ hơn, cô đã để lại cả một sự nghiệp lớn lao tại quê nhà khi ra đi, nhờ vậy mà cô đã có cơ hội giúp đỡ các thân hữu, và một số đồng hương trên đường vượt biển tìm tự do, đến tạm trú tại đảo Guam. Ngoài việc giúp đỡ về vật chất, cô còn thực hiện một chương trình phát thanh Việt ngữ trên đài phát thanh Guam (Kuam) - những đồng hương tỵ nạn, đã từng ở trại tạm trú Guam, như gia đình ký giả Việt Định Phương, ký giả Ngọc Hoài Phương, ký giả Nguyễn Hoàng Đoan v.v... đều biết rõ sự kiện này - để an ủi đồng hương về phần tinh thần.


http://phunuvietnam.vn/media/news/9f4768b4bd4a205e1d3a60398ab022a2/1.jpgRelated image Anh thoi tre cua 'sau nu' Ut Bach Lan hinh anh 5
Út Bạch Lan.
Nghệ sĩ Út Bạch Lan là người được giới cải lương và báo chí Sài Gòn tôn tặng nhiều mỹ danh nhất: Nữ hoàng vọng cổ, Đệ nhất đào thương, Nữ hoàng sầu muộn, Vương nữ sương chiều…
Chất giọng của bà buồn, não lòng bởi cuộc đời bà không bằng phẳng. Nữ Nghệ sĩ mồ côi cha, được mẹ nuôi lớn bên hông chợ, ngủ trên thớt thịt. Tuổi thơ của bà là mỗi ngày phụ người trong chợ bán chanh, bán ớt. Từ một cô bé mồ côi cha, bà may mắn gặp Nghệ sĩ Văn Vĩ có cùng phận nghèo với bà. Khi đó Văn Vĩ lượm được cây đàn guitar cũ bên hông chợ, chỉnh sửa lại rồi hai người tập vọng cổ. Những ngày cuối đời, bà ăn chay, không phải bận tâm chuyện gia đình, con cái nên chỉ tập trung đào tạo, dìu dắt lớp Nghệ sĩ trẻ và làm từ thiện. Bà mất tại nhà riêng sau thời gian dài chống chọi căn bệnh ung thư, lúc 82 tuổi.


Image result for Hình ảnh nghệ sĩ Lệ Thu trước năm 75Nữ ca sĩ Lệ ThuThanh Nga, Tham Thuy Hang goi cam qua tay may Vien Kinh hinh anh 7
Lệ Thu.
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả tám người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.
Trong khi đang theo học bậc Trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy Nghệ danh Lệ Thu. 
Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với vũ trường Tự Do vào năm 1962. Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing... Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.
Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do, và Ritz. 
Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với Ký giả Hồng Dương, nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù ngày 28 tháng 4 cô đã tới phi trường, bước chân đến máy bay, nhưng rồi quay về. 
Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu cũng vượt biên, và đoàn tụ với Lệ Thu tại Nam California.