Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019
Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019
Nghệ sĩ trước 75.
Subject: Nghệ sĩ trước 75.
Thanh Lan.Danh ca Thanh Lan sinh năm 1948 tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, rồi ra Hà Nội, sau di cư vào Sài Gòn năm 1954.Thanh Lan học trường Pháp Saint Paul, rồi vào trường Marie Curie. Mặc dù yêu ca hát nhưng Thanh Lan vẫn đeo đuổi việc học, đậu Tú tài toàn phần Pháp, và tốt nghiệp Đại học Văn Khoa Sài Gòn ban Văn Chương Anh năm 1974.Bà là một trong những Nghệ sĩ hiếm hoi thành công trên cả ba lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và sân khấu. Bà cũng là một trong những Ca sĩ tiêu biểu của nhạc trẻ Sài Gòn thời kỳ đầu, nổi tiếng với các ca khúc nhạc Pháp. Hai bản Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danser) và Đêm Tân Hôn (Oui Devant Dieu) là hai nhạc phẩm đã làm cho Thanh Lan nổi tiếng một thời Sài Gòn trước năm 1975.
Thanh Lan là Ca sĩ vượt biên mấy lần và bị bắt vào tù rất cực khổ. Có những đêm nằm trong trại tù, nền đất, mưa ướt cả người, lạnh và đói. Cô bị cấm hát vì tội vượt biên trong một thời gian dài.Cuối năm 1993, Thanh Lan được mời sang Hoa Kỳ dự buổi ra mắt phim Tình Người của đạo diễn Lê Tuấn, và ở lại bằng cách xin tị nạn chính trị. Sự nghiệp rạng danh nhưng cuộc sống riêng tư của Thanh Lan lại không như ý muốn. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với một thiếu gia ở Sài Gòn, nhưng khi con gái vừa chào đời thì hai người cũng chia tay nhau vì không hợp. Suốt từ đó đến nay, bà một mình nuôi con và không lập gia đình.
Bạch Yến.Ca sĩ Bạch Yến (sinh 1942), tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh tại Sóc Trăng. Bà là một Ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn trước năm 1975.Bạch Yến trở nên nổi tiếng với ca khúc Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, khi chỉ vừa tròn 15 tuổi, và là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965.Năm 1978, lúc 36 tuổi bà mới kết hôn. Sau đó bà định cư tại Paris, Pháp. Bà cùng chồng là nhà Nghiên cứu Trần Quang Hải đi hơn 70 nước trên thế giới để giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam.
Minh Hiếu.Minh Hiếu là một Ca sĩ của Lính. Bà chuyên chở những dòng nhạc Lính và đi sát với đời Lính, miễn khi nào tiền đồn cần bà có mặt thì bà đều dẹp mọi sinh hoạt văn nghệ ở Đại nhạc hội, phòng trà tại Saigon để đến đem tiếng hát của mình tới với nơi tiền đồn chiến tuyến. Bà nói bà ngưỡng mộ hình ảnh hào hùng của người Lính VNCH, nên bà muốn đem lòng của mình đến chia sẻ với những khổ cực của họ. Vì vậy, bà luôn được giới quân nhân quý mến và trân trọng và trong một dịp ở Quân đoàn 4 tại Sa Đéc, bà được vinh danh gắn lon "Hạ sĩ nhất danh dự" của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây là phần thưởng mà giới quân nhân đã dành cho Minh Hiếu để đáp lại những tình cảm và lòng thành của bà dành cho họ. Trong một cuộc phỏng vấn trên Asia thì bà nói: "Đây là phần thưởng mà Minh Hiếu yêu quý nhất trong đời của mình".Về sau bà lập gia đình cùng với Trung tướng VNCH Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc. Sau khi kết hôn, ca sĩ Minh Hiếu rời sân khấu trong lúc hào quang đang chói rạng. Sau năm 1975, bà định cư tại thành phố Houston, Hoa Kỳ, thỉnh thoảng bà có góp mặt một số chương trình văn nghệ Đại nhạc hội của Trung tâm ASIA.
Bạch Tuyết.Bà sinh 24 tháng 12 năm 1945 tại làng Khánh Bình, Châu Ðốc. Từ thuở còn đi học đã bộc lộ năng khiếu ca, ngâm, thường được các thầy cô đưa lên trình diễn trong những đêm văn nghệ.Mồ côi mẹ khi 9 tuổi, bà bắt đầu đi hát ở những nhà hàng ca nhạc. Cũng như những bạn cùng lứa, Bạch Tuyết rất hâm mộ Thanh Nga. Trong một lần gặp gỡ, Thanh Nga nhận xét rằng Bạch Tuyết rất có khiếu hát cải lương, lời khích lệ đó là một trong những động lực đưa bà đến với nghiệp hát xướng.Tuy đi hát, nhưng bà lại rất thích đi học. Đang hát và nổi tiếng với Đoàn Thống Nhất, thì bà nghỉ nửa năm để ôn thi Tú Tài. Sau này, bà cũng nhiều lần đang hát thì nghỉ ngang như thế để đi học. Năm 1985 (40 tuổi), Bạch Tuyết bước vào giảng đường Đại học và có được bằng Cử nhân Ngữ văn.Bà từng tìm cách quyên sinh 3 lần nhưng bất thành. Bà từng quy y Tam bảo Phật giáo với pháp danh Diệu Lộc.Bà kết hôn lần đầu tiên với danh thủ bóng tròn Phạm Huỳnh Tam Lang năm 1967. Cuộc hôn nhân tan vỡ, nhưng sau này 2 người vẫn dành cho nhau những lời tốt đẹp.Sau khi ly dị, cũng trong năm 1974, bà lập gia đình lần thứ 2 với ông Charles Đức, một Việt kiều quốc tịch Pháp. Hai người có với nhau 1 người con trai hiện đang làm việc ở Mỹ.
Nguyễn Thị Túy Phượng.Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ Tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui, và nữ Nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15, Tuý Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên.Tỏa sáng từ cuộc thi Hoa hậu Đông Phương của hãng phim Đông Phương vào năm 1957, lúc cô vừa tròn 17 tuổi, nên về sau, biệt danh "Hoa hậu Đông Phương" gắn liền với cô từ đó. Sự nghiệp diễn xuất của Túy Phượng có thể nói là cực kỳ thành công trên cả điện ảnh và sân khấu kịch. Bà qua đời tại Sài Gòn vào ngày 13-11-2001 và được chồng lo an táng chu đáo, cẩn thận.
Kim Vui.Nghệ sĩ Kim Vui được gọi là Cô đào 'bốc lửa' nhất của điện ảnh Sài Gòn trước năm 1975. Bà chính là nữ Tài tử miền Nam Việt Nam đầu tiên mặc bikini xuất hiện trên màn ảnh rộng. Kim Vui cũng đã đoạt Giải thưởng năm 1971 dành cho nữ Tài tử Điện ảnh xuất sắc nhất với vai diễn trong phim Chân Trời Tím.Từ trước năm 1975, cô đã thành lập một cửa hàng bán băng nhạc và một nhà in tọa lạc trên đường Nguyễn Cư Trinh góc đường Cống Quỳnh, phía bên hông rạp Hưng Đạo, không những thế, cô còn có những cuộc giao thương với ngoại quốc, mở hãng xuất nhập cảng, đặt văn phòng tại đường Trịnh Minh Thế, quận Tư, Sàigòn.Nhưng quyết định đúng nhất của cô phải kể là đưa toàn bộ gia đình qua Hoa Kỳ định cư trước biến cố 30 tháng 4-75 xẩy ra, mặc dù các dịch vụ thương mại của cô ở Sài Gòn chưa được giải quyết ổn thỏa, nói rõ hơn, cô đã để lại cả một sự nghiệp lớn lao tại quê nhà khi ra đi, nhờ vậy mà cô đã có cơ hội giúp đỡ các thân hữu, và một số đồng hương trên đường vượt biển tìm tự do, đến tạm trú tại đảo Guam. Ngoài việc giúp đỡ về vật chất, cô còn thực hiện một chương trình phát thanh Việt ngữ trên đài phát thanh Guam (Kuam) - những đồng hương tỵ nạn, đã từng ở trại tạm trú Guam, như gia đình ký giả Việt Định Phương, ký giả Ngọc Hoài Phương, ký giả Nguyễn Hoàng Đoan v.v... đều biết rõ sự kiện này - để an ủi đồng hương về phần tinh thần.
Út Bạch Lan.Nghệ sĩ Út Bạch Lan là người được giới cải lương và báo chí Sài Gòn tôn tặng nhiều mỹ danh nhất: Nữ hoàng vọng cổ, Đệ nhất đào thương, Nữ hoàng sầu muộn, Vương nữ sương chiều…Chất giọng của bà buồn, não lòng bởi cuộc đời bà không bằng phẳng. Nữ Nghệ sĩ mồ côi cha, được mẹ nuôi lớn bên hông chợ, ngủ trên thớt thịt. Tuổi thơ của bà là mỗi ngày phụ người trong chợ bán chanh, bán ớt. Từ một cô bé mồ côi cha, bà may mắn gặp Nghệ sĩ Văn Vĩ có cùng phận nghèo với bà. Khi đó Văn Vĩ lượm được cây đàn guitar cũ bên hông chợ, chỉnh sửa lại rồi hai người tập vọng cổ. Những ngày cuối đời, bà ăn chay, không phải bận tâm chuyện gia đình, con cái nên chỉ tập trung đào tạo, dìu dắt lớp Nghệ sĩ trẻ và làm từ thiện. Bà mất tại nhà riêng sau thời gian dài chống chọi căn bệnh ung thư, lúc 82 tuổi.
Lệ Thu.Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả tám người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.Trong khi đang theo học bậc Trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy Nghệ danh Lệ Thu.Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với vũ trường Tự Do vào năm 1962. Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing... Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do, và Ritz.Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với Ký giả Hồng Dương, nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù ngày 28 tháng 4 cô đã tới phi trường, bước chân đến máy bay, nhưng rồi quay về.Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu cũng vượt biên, và đoàn tụ với Lệ Thu tại Nam California.
Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019
Niềm tin của XN
Niềm Tin của Xuân Nháy
Kính chào Trung Tá Bùi Văn Thiện, cho phép Xuân Nháy nói vài câu chuyện cũ và có liên hệ đến Tr/T.
Kính chào tất cã anh chị em giờ này đã 2 am, mà XN không ngủ được vì có những chuyện cũ ẫn hiện trong đầu.
Xin phép tôi không rao giảng về tôn giáo, dù rằng trong chuyện của tôi kễ ra đây 100% có liên hệ tôn giáo, thành thật xin lỗi nhưng là đời thật của tôi 99% có ông TRỜI,
Thưa bạn, bạn có tin CHÚA , PHẬT ,.... ÔNG TRỜI hay không ????? tôi nói ra đây với riêng (( CÁ NHÂN )) tôi mà thôi, vì chúng mình hầu hết là LÍNH TRẬN thấy đó rồi mất đó , có đôi khi tôi không biết và tự hỏi ??? trên cõi đời này có ĐẤNG THƯỢNG ĐẾ hay không ??? vì có tên qúa hiền mới vô nghề đi một hay hai chuyến là mất tích, hay có tên vẫn còn sống, trong khi cả toán lãnh nguyên trái B 40, cái chết nó đến với chúng mình từng giờ từng phút mãi rồi gần như nó nhàm......
Nhưng ngày hôm nay chúng mình đã già hết rồi, nên tôi nghĩ là tôi nên kể lại, nhớ gì kễ ra vậy thôi , không phẫi NỖ, nếu anh chị em nào ghét thì tôi thành thật đón nhận, tuổi đã qua 70 thì nếu có thêm người ghét thì cũng nên có.
Anh chị em thì hầu hết đã biết và gặp niên trưỡng Tr/T Bùi văn Thiện nhưng tôi đoán là ít có người nào biết điễm đặc biệt của ông Thiện, tôi biết có nhiều người đi hành quân với ông Thiện, nhưng chắc không mấy ai để ý ??? Và đây là điễm đặc biệt , tất cã những chuyến công tác là sau khi cả toán đươc nghe xong thuyết trình hành quân, không cẩn biết có bao nhiêu tiểu đoàn hay sư đoàn VC ở mục tiêu ??? Tr/T Thiện làm dấu THÁNH GIÁ dâng đời mình cho THIÊN CHÚA thế là xong , ông dẫn toán vô mục tiêu ngay , ông coi sư đoàn vc là cỏ rác , trong khi đó anh em thằng nào cũng ướt cã QUẦN. Khi đụng trận cả toán chỉ có trên dưới 10 tên, vc nhiều hơn Lá rừng mà ông HÔ xung phong, xung phong, súng nổ phi cơ ném bom xung quanh thế mà cả toán được triệt xuất an toàn. ..... Tr/T Thiện có Đức Tin hoàn toàn nơi THIÊN CHÚA. nếu nói ra có những chuyện mà tôi không hiễu tại sao cả toán còn sống.
Chuyện một chuyến hành quân khác nhẩy qua LÀO, vùng đó hoàn toàn đồi núi cao, toán phẫi đi theo triền đồi suốt cả tuần lễ, vì mùa hè nóng mà đi trên cao toán đã hoàn toàn hết nước mà không gặp con suối nhỏ nào, anh em nghĩ chắc phen này chết khát, mà vc thì ở dưới thung lũng, mình đi trên cao thì không tài nào tìm gặp suối, thế là 4 anh trong toán là Công Giáo chỉ có Nháy là TÀ GIÁO, mấy anh nói thôi tụi mình nghĩ chân đễ CẦU NGUYỆN nếu không cã toán chĩ có chết vì nước , cả 4 anh làm dấu theo nghi thức Công giáo rồi cầu nguyện xin Thiên Chúa che chở, còn XN lúc đó là qủy đâu biết gì Trời với Đất, sau đó đi thêm gần 2 ngày trên sườn đồi cao thì toán thấy có đất ẨM rồi đi chậm lại phát hiện có giọt nước nhỏ từng giọt chổ cục đá qua chiếc Lá khô. Tất cả toán lúc đó không thể nào tin được cả một triền đồi khô hạn mà có nước nhỏ giọt như một phép lạ, anh em chia phiên ngồi hứng từng giọt nước gẩn 2 ngày vậy mà ăn uống xong và tất cã bi đông của anh em đều đầy nước mà tụi này không bao giờ hiểu tại sao nơi đó có nước một cách vô lý. Tiếp tục đi cả 10 ngày nữa mà chẵng thấy đường mòn gì cả, trong toán nói có thể phi cơ thả sai LZ (bãi đáp), đi đến sáng hôm, sau anh em dừng lại, nói Nháy trèo lên cây cao quan sát và lấy điểm đứng, Nháy leo lên thật cao vừa nhìn xuống thì anh bạn làm dấu (( sìt sịt )) có vc, Nháy xuống cây thật nhanh, vừa xuống chạm đất thì có hàng chục khẫu AK nỗ thế là Xuân Nháy ăn nguyên một băng vô áo băng đạn AK, ( băng đạn AK đeo ở trước ngực ) còn trái lưu đạn Mini bay mất cái đầu, chai thuốc muỗi lũng luôn, giao tranh được mấy băng đạn, ném lưu đạn rồi bỏ chạy trối chết, rút lui an toàn không ai bị thương, về đến trại bằng an, coi lại áo Nháy lãnh 28 lỗ mà không bị trầy da.
XN đã đi bao nhiêu chuyến bất cứ đụng lớn hay nhỏ, nhưng cả toán luôn về bình an
Đi với anh Tr/u Ngợi bên Miên, vc đứng đầy rừng cao su, đến tối toán Thám Sát và vc hai bên gần sát mặt nhau, thiếu điều vừa bắt tay vừa nỗ súng, thế là chạy thục mạng suốt đêm, vậy mà cả toán chẵng tên nào trầy da.
Rồi đi với Hoàng Hồng nhảy qua Miên , đi 5 ngày đến đường mòn, toán quan sát chờ tối ra địa điểm, 5 thằng phục kích, nằm im mấy tiếng đồng hồ mọi việc im re không một tiếng động, bất thình lình cã trung đội nó đi qua, cả toán nín thở,.. sau đó khoảng một tiếng có 4 , 5 thằng nữa đi qua, tụi này nỗ súng liền, có mấy thằng chạy nhưng có 2 tên té nằm xấp xuống, tụi này nhẫy ra chụp cổ, rồi cột tay lại , cả toán áp 2 tù binh vừa đi vừa chạy tới 4 giớ chiều mới có LZ, rồi H 34 Trực Thăng nhào xuống, XN và anh nữa áp tải 2 vc lên H 34, sau đó chiếc H 34 thứ 2 KingBee Pilot Dương Ngọc Như ( Tư Voi ) xuống bốc 2 anh và Hồng, vừa cất cánh khỏi mặt đất, vc nỗ đại liên bắn chiếc H 34 này gẫy đuôi, gẫy cả bánh xe rơi xuống đất, phẫi đến chiếc H 34 thứ 3 mới bốc 3 anh và phi hành đoàn Trực Thăng 219, vậy mà tất cả bình an không ai bị trầy da.
Nhiều lần tôi không nhớ hết, chuyến đi với Tr/U Hoàng Như Bá thì tôi và anh Bá không thể nào hiễu được , Võ Tấn Y và 2 người vừa qua con kênh xong, còn tôi và anh Bá để ba lô súng đạn vô Poncho đặt dưới chân đang đứng dưới nước chuẫn bị qua sông, đúng lúc đó 3 thằng vc chèo ghe cầm 3 cây AK nhìn bên bờ của thằng Y vì có tiếng động, sau đó chúng xoay người ra phía sau cách nhau vc với anh Bá và tôi tay không khoảng không tới 5 Mét, sau đó nó chèo ghe đi mà không bắn viên nào, tới chiều hôm đó tất cả toán hạ 3 tên đó, có thễ không ai tin được anh Bá và tôi còn sống.
Thưa anh chị em, cã đời tôi tin có THƯỢNG ĐẾ và tôi luôn đứơc che chở ,kễ cả chuyện tình yêu lấy vợ , đám cưới , nhà cứa tiền bạc và những người đàn bà thương ghét tôi, tôi bị cấp cứu Thông tim 2 lần toàn là nguy hiễm vì tim tôi bị NGHẸT bẫm sinh , một mạch máu nghẹt 100% nên máu chạy ngược vậy mà tôi vẩn sống , tôi luôn tin Thiên Chùa che chở cho tôi qua hết tất cả nghịch cảnh, cả cuộc đời tôi là phép lạ. Hôm nay tôiđã già, nên viết lại cuộc đời tầm thường của người lính trận và nói rằng trên đời này luôn có THƯỢNG ĐẾ đễ mình biết và ít phạm tội
Tạ ơn THIÊN CHÚA.
Con là Steve Le
Jan 09-2017
Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018
Tình Yêu Thiên Chúa Trong Lời Thánh Ca Của Vĩnh Phúc
Tình Yêu Thiên Chúa Trong Lời Thánh Ca Của Vĩnh Phúc
Posted by: "Pha.m Anh Du~ng" <phamanhdung1@gmail.com>
1 tháng 3 lúc 5:56 PM
Tình Yêu Thiên Chúa Trong Lời Thánh Ca Của Vĩnh Phúc
Nhiều người thuộc thế hệ thanh niên tại miền Nam Việt Nam vào thập niên 1960 biết bài tình ca “Ngàn Thu Áo Tím” do Hoàng Trọng viết nhạc và Vĩnh Phúc viết lời. Những ai đã từng ở trong ban hát của các Hội Thánh Tin Lành tại Việt Nam trong những thập niên vừa qua, chắc hẳn ít nhất một lần đọc thấy tên Vĩnh Phúc trong các bài Thánh Ca Việt ngữ. Tuy nhiên, khác với những cuộc tình ly biệt đầy nước mắt trong những bài tình ca mà Vĩnh Phúc đã viết; trong Thánh Ca của Vĩnh Phúc người nghe cảm nhận được tình yêu diệu kỳ của Thiên Chúa qua hơn 350 Thánh Ca – chưa kể đến rất nhiều bài hát cho thiếu nhi – mà cô đã viết.
Vĩnh Phúc tên thật là Lưu Thị Vĩnh Phúc. Vĩnh Phúc lớn lên trong gia đình tin kính Chúa nên những lời Thánh Ca do cô viết chan chứa tình yêu của Thiên Chúa. Người nghe dường như được nhắc lại những phân đoạn Kinh Thánh mặc dù trong ca từ không thấy những dòng chữ đó. Điển hình như trong bài Bước Với Chúa Yêu Thương, khi hát phần điệp khúc: “Được đi với Cha khi mộng trần gian khuất xa….” người nghe liên tưởng đến hai môn đồ trên làng Emmaus năm xưa. Hay trong bài Thánh Ca đầu tiên của Vĩnh Phúc – Tình Yêu Thiên Chúa – phiên khúc đầu tiên gợi nhớ về đêm Chúa giáng sinh; và sau đó sự hy sinh của Chúa trên thập tự được nhắc đến trong phần cuối của phiên khúc thứ hai. Trong tất cả những bài Thánh Ca do Vĩnh Phúc sáng tác, người nghe có thể cảm nhận tình yêu vô biên của Chúa và niềm an ủi bất tận của Ngài.
Nhưng có lẽ bài Chúa Quá Yêu Tôi là một thí dụ tiêu biểu thể hiện tài năng viết lời rất đặc biệt của Vĩnh Phúc. Bài này trong nguyên tác tiếng Anh không phải là một bài Thánh Ca; tuy nhiên dưới ngòi bút của Vĩnh Phúc, lời Việt của bài gần sát với nguyên bản tiếng Anh You Needed Me nhưng lại rất Cơ Đốc. Người nghe cảm nhận được sự chăm sóc an ủi của Chúa ngay trong những dòng chữ đầu tiên “Lệ tràn khoé mắt, được Ngài thấm khô…” liên tưởng đến cảnh Chúa trò chuyện với Phi-e-rơ sau khi Ngài sống lại. Lời bài hát dường như cũng nhắc lại cho người nghe những lần Chúa nói với chính mình sau khi đã lỡ bước sa chân lìa xa Chúa.
Trong cuộc họp mặt nữ sinh Trưng Vương tại Houston vào năm 1991, Vĩnh Phúc đã giải thích lý do cô chuyển viết lời từ tình ca sang Thánh Ca như sau: “Mặc dầu tình ca hay và đẹp nhưng luôn chứa đựng những câu chuyện buồn. Những chuyện tình buồn không lối thoát. Nhưng khi viết Thánh Ca, tôi thấy lòng nhẹ nhàng thanh thoát vì được giãi bày tâm sự của mình với Thiên Chúa.”
Tâm tình này có thể đọc thấy trong nhiều ca khúc của Vĩnh Phúc, nhất là các ca khúc viết cho thiếu nhi như trong bài Bầu Trời Xanh: “Bầu trời xanh xanh, trùng dương mông mênh, màn sương óng ánh, cây rừng xanh xanh, ngàn sao lấp lánh, áng mây bồng bềnh. Ôi cõi đời đẹp xinh!” Niềm vui thanh thoát nhẹ nhàng, lan tỏa trong từng câu hát.
Người viết xin chia xẻ vài chi tiết về Vĩnh Phúc qua bài phỏng vấn bằng email.
Thủy Như: Xin cô cho biết về thân thế và gia đình. Con nghe nói họ hàng nhà cô là người miền Trung nhưng cô nói giọng rất Bắc.
Vĩnh Phúc: Cô là thứ nữ của hai cụ cố Mục sư Lưu Văn Mão. Ba Mẹ cô đều là người Miền Trung và nói giọng Miền Trung. Sau khi tốt nghiệp Trường Thần Học, các cụ hầu việc Chúa ở Huế (Miền Trung) một thời-gian rồi được gửi ra Miền Bắc phục vụ Chúa. Cô được sinh ra, lớn lên, và đi học tại Miền Bắc nên nói giọng Bắc rất đúng, không bị “lai” chút nào.
Thủy Như: Lời Thánh Ca mà cô sáng tác đầu tiên là bài nào và trong hoàn cảnh nào?
Vĩnh Phúc: Lời bài Thánh Ca đầu tiên mà cô viết là “Tình Yêu Thiên Chúa”, dường như nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh giao cho cô viết vào dịp Lễ Giáng-Sinh năm 1969 thì phải! Mặc dù hoàn cảnh vui buồn thường là cảm hứng cho những sáng tác của hầu hết các tác giả, nhưng hình như cô không dựa vào “hoàn cảnh” để viết, nhất là viết Thánh Ca. Thánh Ca là những bài người trần gian hát lên tôn vinh Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa muôn loài. Thiên nhiên ca ngợi Ngài liên tục suốt đêm ngày, tháng, năm, thế-kỷ: Mưa rơi tí tách, gió thổi vi vu, cây rung lá xào xạc, sóng vỗ, thác đổ, suối reo… không có dấu hiệu nào gợi cho ta thấy “hoàn cảnh” mà thiên-nhiên chọn để hát “Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi”. Thế nên những bài cô viết ít khi được gợi hứng từ hoàn cảnh.
Thủy Như: Cô học nhạc từ đâu? Điều này có ảnh hưởng như thế nào trong việc sáng tác của cô?
Vĩnh Phúc: Mục sư Vũ Hồng Tuấn dạy cô những nốt nhạc đầu tiên. Nhạc sĩ Thẩm Oánh là nhạc sư mà cô theo học nhiều năm nhất. Thế nhưng cô lại không phải là người giỏi nhạc vì cô không nhớ được hết những gì mình đã học. Cô nghĩ rằng nhiều người khác có lẽ cũng giống cô: Vì yêu Chúa, nên tâm hồn mình tự động “vỡ” ra thành khúc hát.
Thủy Như: Cô đã sáng tác bao nhiêu ca từ? Những bài nào cô tâm đắc nhất?
Vĩnh Phúc: Cô không nhớ mình đã viết bao nhiêu lời Việt cho các bài Thánh Ca, nhưng nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh lưu trữ đầy đủ những bài cô viết từ trước đến bây giờ. Hình như cô không có bài nào “tâm đắc” vì bài nào cô cũng hết sức chu đáo khi viết, để hết tâm hồn vào bài, ý nghĩa phải rõ ràng, mạch lạc, chữ phải chọn lọc, lời phải trau chuốt và phải chú ý đến vần.
Ba cô dạy cô cách làm thơ, ngoài việc sử dụng bằng, trắc cụ hướng dẫn cô đặc-biệt về vần trong thơ. Đương nhiên phải chọn những chữ có vần theo đúng luật, nếu không có chữ đúng y vần mà cụ gọi là chữ có “bà con gần” thì phải chọn những chữ có “bà con xa”. Phải cố gắng lựa những từ ngữ đẹp để đặt vào bài thơ. Việc học hỏi này rất hữu ích khi cô áp dụng vào việc viết lời cho Thánh Ca.
Vì âm nhạc có các nốt cao thấp khác nhau, đã vậy, Việt ngữ lại có các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng rất khó viết, nên phải hết sức thận trọng khi ghép các từ ngữ làm sao cho đúng cao độ của âm nhạc, nếu không người nghe sẽ khó tiếp thu được lời hát trong tiếng Việt. Âm nhạc có 7 nốt chính là “Do-Ré-Mi-Fa-Sol-La-Si” không dễ ghép lời Việt, nhất là âm điệu nốt này liên tục sang nốt kia lại quá gần gũi, ví dụ như bài “Phước Cho Nhân-Loại” (Joy To The World) Thánh Ca cũ số 54, câu mở đầu “Phước cho nhân loại Chúa ta ra đời”, Thơ Thánh trang 132 (in vào tháng July 1939), câu mở đầu “Thế gian vui vẻ bởi Christ giáng hạ…” nhạc là “Do-Si-La-Sol-Fa-Mi-Ré-Do” rất khó để viết cho đúng với các dấu của Việt ngữ nên đôi khi người viết phải chọn những từ ngữ tương đương, vì khó như thế nên nếu thiếu kiên nhẫn sẽ dễ dàng bỏ cuộc.
Thủy Như: Có phải tất cả ca từ và có lẽ một số bài hát trong tập Tiếng Hát Chiên Thơ là do cô sáng tác?
Vĩnh Phúc: Cô chưa hề biết tập “Tiếng Hát Chiên Thơ” bao giờ. Cô chỉ nhớ là mấy chục năm trước, ông Hà Hữu Quang có yêu-cầu cô viết một số đoản ca dùng cho các em nhỏ, được in trong cuốn “Em Vui, Em Hát” do Hội Hoàn Cầu Khải Tượng (World Vision) in. Sau này những người thực hiện các tập bài hát đều sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, cô không giữ được những đoản ca mình đã viết hồi ấy, nhưng nếu đọc lời ca thì cô sẽ biết bài nào do mình viết. (Xin xem những bài do cô Vĩnh Phúc viết trong tập “Tiếng Hát Chiên Thơ” ở đây.)
Thủy Như: Lời ca cô viết là do “đặt hàng” hay là do cảm hứng?
Vĩnh Phúc: Trước đây, đôi khi cô tự chọn bài để viết, đôi khi có người nhờ viết lúc Hội Thánh có nhu cầu vào các dịp lễ đặc biệt. Sau này cô thấy thực sự là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nói chung đều rất cần những Thánh Ca Việt ngữ, không chỉ dùng vào các dịp lễ đặc biệt như Giáng Sinh, Thương Khó, Phục Sinh, Lễ Cưới, Lễ Tang… mà ngay cả các buổi thờ phượng hằng tuần, các nhóm nhỏ, thanh thiếu niên, nam giới, nữ giới, nhi đồng… đều rất cần bài để tôn vinh Chúa nên cô chú tâm viết về nhiều chủ đề khác nhau. Tuy hiểu biết giới hạn, nhưng cô rất kỹ lưỡng, cô không quan tâm đến số lượng bài mà cần nhất là phải chu đáo, không cẩu thả, bài nào cô cũng chọn từng chữ, trau chuốt từng chữ. Dù vậy, vẫn khó tránh khỏi khuyết điểm. Cô nghĩ rằng tại hải ngoại, thế hệ sau mình sẽ không còn dùng tiếng Việt nữa nên hầu hết các bài viết, cô đều hướng về Hội Thánh trong nước..
Thủy Như: Cô có sáng tác nhạc không?
Vĩnh Phúc: Có! Cô học sáng tác với nhạc trưởng Hoàng Trọng. Hồi ấy có những bài thực tập, sau khi một số bài tập được Hoàng Trọng sửa chữa, cô có viết lời ca cho các bài ấy nhưng cô lấy tên khác mà không dùng tên Vĩnh Phúc.
Thủy Như: Phần nhiều các ca khúc cô viết là các nhạc phẩm Cơ Đốc. Cô có sáng tác nhạc đời không? Nếu có, đó là những bài nào?
Vĩnh Phúc: Có. Cô viết lời ca chừng vài chục bài nhạc đời, với nhạc của nhạc sĩ Hoàng Trọng. Những bài dưới đây đã được phát-hành và phổ biến trong nước và hải ngoại từ các thập niên 1960-1970 :
| Tựa đề | Lời | Nhạc |
| Cánh Hoa Yêu | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Đây Bình Minh | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Đường Về Dĩ Vãng | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Hai Phương Trời Cách Biệt | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Một Người Lên Xe Hoa | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Một Thuở Yêu Đàn | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Ngàn Thu Áo Tím | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Người Đi Chưa Về | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Nhặt Lá Vàng | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Nhớ Hoài | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Tìm Một Ánh Sao | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Tình Thơ Mộng | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Tình Ta Như Giấc Mơ | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Trang Nhật Ký | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
| Vào Mộng | Vĩnh Phúc | Hoàng Trọng |
Ngoài ra, cô cũng viết lời ca cho 3 nhạc phẩm của Bác sĩ Phạm Anh Dũng: Người Yêu Dấu Mang Tên Một Loài Hoa, Hoài Mong, và Thơ Ấu Qua Rồi!
Nhạc Phạm Anh Dũng, Lời Vĩnh Phúc
Nhạc Phạm Anh Dũng, Lời Vĩnh Phúc
Hoài Mong (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Ẩn Lan hát, Nguyễn Hữu hòa âm
Hình ảnh: Đinh Văn Linh & Hoàng Khai Nhan, Dàn dựng: Hoàng Khai Nhan:
https://youtu.be/DKTNI7EQ Crc
Người Yêu Dấu Mang Tên Một Loài Hoa (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Tâm Thư hát, Cao Ngọc Dung hòa âm:
https://soundcloud.com/phamanh dung/nguoi-yeu-dau-mang-ten-mo t-loai-hoa
Thơ Ấu Qua Rồi (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Diệu Hiền hát, Quang Ngọc hòa âm:
https://soundcloud.com/phamanh dung/th-u-qua-r-i
Thủy Như: Bài “You Needed Me” được cô viết lờì Việt là “Chúa Quá Yêu Tôi”. Bài này trong nguyên tác tiếng Anh không phải là một nhạc phẩm Cơ Đốc. Làm sao cô có những ý tưởng để viết lời gần sát như nguyên tác nhưng lại rất “Cơ Đốc” trong bản tiếng Việt?
Vĩnh Phúc: Hỏi gì mà … oái-oăm thế! Chúa dẫn dắt thôi, cô chẳng tự mình làm được gì đâu !
Thủy Như: Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã sáng tác một số nhạc phẩm lúc ông đang ở tù cải tạo. Cô có viết lời cho một số bài ấy và giúp chuyển các bài này ra hải ngoại. Cô có nhận biết những việc làm này là nguy hiểm không? Tại sao cô lại làm những điều đó?
Vĩnh Phúc: Là con cái Chúa, ai cũng cần chia sẻ những gì liên quan đến tâm linh cho người khác. Hồi cô nhận được các bài của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm từ trong tù chuyển ra, vì là Thánh Ca tôn vinh Chúa và nói lên nỗi niềm của những người tin nhận Ngài trải qua những thăng trầm trong cuộc sống. “Nguy hiểm” như em nói thì cũng có, vì có lần nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh đã bị gọi lên quận “làm việc”. Khi trở về, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh đã nhờ ông Lâm Lý Trí đến cho cô biết là họ có nhắc đến cô và bảo rằng “Chị Vĩnh Phúc vi-phạm nghị-quyết số 297 (thì phải) về sáng-tác”. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh nhanh trí trả lời: “Chị Vĩnh Phúc không sáng tác! Chị ấy chỉ dịch thôi”. Họ không chỉ để ý các thư mình gửi ra ngoại quốc mà họ còn theo dõi những sinh hoạt của mình ngay tại địa phương và nhất là tại nhà thờ nữa. Tuy vậy, cô thấy cần phổ biến cho Hội Thánh khắp nơi nên cô đã tìm cách gửi đi. Trên hết là nhờ Chúa giúp đỡ, cô lại cẩn thận không ghi tên và địa chỉ người gửi và Chúa thương cho bài “cất cánh bay đi an toàn” rồi người này chuyển sang cho người kia ở những nơi có Hội Thánh người Việt. Cô chẳng nhớ cô đã viết lời ca những bài nào của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, ngoại trừ bài “Khúc Nhạc Nô-ên”.
Cô nghĩ rằng văn nghệ đáng lẽ không nên bị ràng buộc bởi thời thế, nhất là những bài Thánh Ca, nhưng thực tế nhiều khi cũng bị giới hạn. Ngay cả hồi còn Việt Nam Cộng Hòa, những bài tình ca cô viết chung với nhạc sĩ Hoàng Trọng, khi qua kiểm duyệt thì khá nhiều lần Bộ Thông Tin đã yêu-cầu phải sửa lại một số câu, một số từ ngữ, vì họ nói là “đất nước đang chiến tranh, nếu văn chương… lãng mạn quá sẽ làm nhụt chí binh sĩ…” Sửa đi sửa lại dĩ nhiên là “méo mó” cả bài hát, ý nghĩa bài không còn trung thực như lúc khởi đầu nữa.
Thủy Như: Cô sang Mỹ năm nào? Công việc mưu sinh của cô có liên hệ đến lĩnh vực sáng tác của cô hay không?
Vĩnh Phúc: Cô đến Mỹ vào ngày 10 tháng 4 năm 1990, định cư tại thành phố Houston, Texas, nhưng mãi đến tháng 09 năm 1991 cô mới xin việc làm tại một công ty thương mại mà trước đây hồi còn ở Việt Nam, cô đã là nhân viên của công ty này nên cô phải di chuyển đến Nam Cali để làm việc. Công việc thương mại thì rất khô khan, căng thẳng… khác hẳn với tâm hồn yêu thích văn nghệ của cô, dù vậy cô không tách rời âm nhạc ra khỏi trái tim mình được nên tuy phải làm việc bận rộn, cô cũng cố gắng sử dụng ân tứ Chúa ban để hầu việc Ngài. Cô luôn hết lòng cảm ơn Chúa vì đây là niềm hạnh phúc cao quý nhất mà Chúa ban cho cô trong đời sống theo Ngài.
Thủy Như: Sáng tác ở Mỹ và ở Việt Nam khác nhau như thế nào?
Vĩnh Phúc: Với cô, sáng tác là từ tâm hồn, ở quê nhà hay ở hải ngoại đều không ảnh hưởng gì hết ngoại trừ công việc bận rộn thì bị hạn chế phần nào mà thôi.
Thủy Như: Cảm ơn cô rất nhiều cho cuộc phỏng vấn này.
Cô Vĩnh Phúc hiện đang sinh hoạt tại Hội Thánh Tin Lành Giám Lý Anaheim, California. Bạn có thể xem danh sách những ca khúc do cô Vĩnh Phúc viết lời tại trang Vĩnh Phúc của Bách Khoa Từ Điển Tin Lành.
Thủy Như
Anaheim, California
03/28/2015
Anaheim, California
03/28/2015
==========
Đường Tôi Đi Tới (My Way) (Nhạc: Jacques Revaux, Lời Việt: Vĩnh Phúc)
Thiên Bảo hát
https://youtu.be/oOS6FnozeGQ
Quỳnh Dao hát:
https://youtu.be/yTigVXl4ytE
Thiên Bảo hát
https://youtu.be/oOS6FnozeGQ
Quỳnh Dao hát:
https://youtu.be/yTigVXl4ytE
===========
Ngàn Thu Áo Tím (nhạc Hoàng Trọng, lời Vĩnh Phúc) Ý Lan hát:
===========
Nhạc Phạm Anh Dũng, Lời Vĩnh Phúc
Hoài Mong (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Ẩn Lan hát, Nguyễn Hữu hòa âm
Hình ảnh: Đinh Văn Linh & Hoàng Khai Nhan, Dàn dựng: Hoàng Khai Nhan:
https://youtu.be/DKTNI7EQ Crc
Người Yêu Dấu Mang Tên Một Loài Hoa (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Tâm Thư hát, Cao Ngọc Dung hòa âm:
https://soundcloud.com/phamanh dung/nguoi-yeu-dau-mang-ten-mo t-loai-hoa
Thơ Ấu Qua Rồi (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Vĩnh Phúc) Diệu Hiền hát, Quang Ngọc hòa âm:
https://soundcloud.com/phamanh dung/th-u-qua-r-i
__._,_.___
Posted by: "Pha.m Anh Du~ng" <phamanhdung1@gmail.com>
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
