Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Nguyễn Ngọc Ngạn_ MC Kỳ Duyên_ Ý Lan

Nguyễn Ngọc Ngạn_

MC Kỳ Duyên_

Ý Lan






Bí mật cuộc đời MC Nguyễn Ngọc Ngạn


www.youtube.com/watch?v=duR9vg7b6-A



Bí mật cuộc đời của MC Kỳ Duyên

www.youtube.com/watch?v=ECcU2772LlU 



Cuộc đời giông tố của “Bà hoàng sân khấu” hải ngoải Ý Lan

www.youtube.com/watch?v=bDC0l45BgOU

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ - Vũ Thế Thành _quimaoz nguyen share



Một bài viết thật hay ...
 

 
 TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối  đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

 

 TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ
  Vũ Thế Thành


  Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,…Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế…Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..
Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn- Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5-7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả?

Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.
Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ,có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,…quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”.Não lòng đến thế là cùng!Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên,bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong thánh.
Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 75 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi. Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…” (**)
Vũ Thế Thành
Đà Lạt, 28 tháng 4, 20

    

quimaoz nguyen

   

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972 " MẠT LỘ " __ Qui Mao - NDPhan

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa,

LTG: Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật,
 cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng. 

Anh ạ! tháng tư mềm nắng lụa, 
Hoa táo hoa lê nở trắng vườn, 
Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi, 
Em mở lòng xem lại vết thương, 
Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm, 
Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê, 
Hay sương thành lệ tra vào mắt, 
Mờ khuất trong em mọi nẻo về. 

Sau khi đọc bài thơ này của Nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt. Bốn mươi mốt  năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại hồng thủy tháng tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài gòn”(trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ quốc?. 

Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ Quân đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là Thiếu Úy, với chức vụ nhỏ nhất là Trung đội trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ Tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam . Mùa Hè đỏ lửa năm 72 là năm Quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong. Niên khóa năm 71-72, tôi là Sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại,tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly, đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…” Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?.

Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ,chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ Hằng ngày họ xem TV thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bài cho tôi. Trong bài “Đại bác ru đêm” của Trinh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về Thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã ầm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.

Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn. Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của Miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.

Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường ĐH tụ họp về đây, chúng tôi làng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thực thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gang thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong 5 tuần lễ đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa.

Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh viên Sĩ quan chỉ huy buổi Lễ: “Quì xuống các SVSQ”, sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa: “Đứng lên các Tân Sĩ Quan”. Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài gòn, bỗng cái Ông Thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn: “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, SĐ 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề”. Oái oăm thay ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho SĐ 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh SĐ 9 tại Vĩnh Long. SĐ này có 3 Trung Đoàn: 14,15 và 16. Tôi được đưa về Trung đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài gòn qua Ngã ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa ĐTM lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú. Đám Tân SQ chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị Sĩ quan Quân số hỏi có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong “Tháng Ba Gẫy Súng” tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một Trung Đoàn Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. ĐĐ/TS cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giong nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ: “Chuẩn úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời: “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám”. Trời đất, tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm Trung đội phó là sao nhĩ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Trung đội phó là còn may, các Sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng toán Viễn thám, thiệt là chết dở.

Đai Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm 2 Trung đội Trinh Sát và 1 Trung đội Viễn Thám. Các Sĩ quan Trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng? Sau một thời gian sống gần gũi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa Đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước ĐĐ, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi ! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu, cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng, bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

– Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ quan nào vậy?

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

– Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

– Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ !

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh viên Sĩ quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm, hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp. Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng, ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chớ hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng, tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72. Anh ta là người trí thức có bằng Cử nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dở khóc dở cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng: “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”. Tôi ngượng điếng người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát: “Ý cha! cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!” Thiệt là khổ cho cái thân học trò của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán.

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy. Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa sạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đấu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.

Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa sạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lỗ chỗ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường BB Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn SQ đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành Phế-binh thương tật. Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của Sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung đội trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên lính dễ chết thì Trung đội trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung đội phó, không biết nói sao nữa.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền tin nói với C/U Thắng: “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp.” C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi: “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu”. Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi: ” Nè! C/U Châu, tôi giao Trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông xin tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn: “Tất cả theo tôi”. Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa). Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quăng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông xếp của mình. Thiệt là khôi hài. Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một Sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau đó tôi được điều qua các Trung Đội khác, phụ trách công việc tạm thời cho các Trung đội trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế. Ông Trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các Sĩ quan trong đơn vị cho ĐB mới được biết. Sau khi điểm mặt 3 Trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung đội phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người: ”Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến… “Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bươn chải về phía trước. Đối với ĐB mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ SQ xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung đội trưởng, sao lại là cái ông Trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặt khác, đầy hung hiểm chết người.

Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải “động não” đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp Chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung đội tôi vào nơi Tử địa. Khi Đại đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Tr.đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một Sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có Huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ sử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nổi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi đầu sóng ngọn gió. Vậy mà tôi sống, mới kỳ.

Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè -Cai lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của đồng bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt 1 ngày với xe thiết giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có 1 sinh vật nào sống nổi trong vùng này, đừng nói chi đến con người. Vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn. Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng – Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền – Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lềnh trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai – Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc-ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, 2 bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lát, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm 74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu. Khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm 1 gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng 3 khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh. Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ.

Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có 1 đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân. Lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất, tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư! Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ rạch, có tên là Rạch Cái Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này. Người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là hóc-bà-tó. Đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ. Cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn giấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luộc.

Lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời, chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường 1 Chi đoàn thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến 1 điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng: ”Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!” Không ngờ lời nói của tôi “linh như miễu”. Đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh rờ rẩm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, song phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ 2, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn mà còn sống như tôi vậy

Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: ”Thiếu Úy ơi! cứu em! “ Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước mặt, cách tôi chừng dăm ba thước. Thông thường các Sĩ quan Trung đội Trưởng có 2 người lính đệ tử, 2 người này có nhiệm vụ lo chỗ ăn chỗ ngủ và lo mang vác đồ đạc cho ông Thầy. Những người lính đệ tử của tôi thường đối với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết vì tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn Trung đội xung trận, 2 người lính này theo sát để bảo vệ cho tôi. Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là Hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.

Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe Thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: ”Đừng làm thế, Tường ơi! “. Sau đó, Trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn Úy Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt!”

Không biết sao đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa sạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy. Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chổ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo.

Đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình. Ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay. Tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vắng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu. Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên 1 cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo. Một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em. Câu chuyện thật tội nghiệp. Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này,đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết,nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “chảnh”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé: “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát”. Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu. Ban Quân số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ. Càng về sau các Sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một trung đội nữa vỗ vào mặt chính diện, trung đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra 1 trái hỏa tiển B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà. Tội nghiệp Hà chết không toàn thây. Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đính anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

– Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?.

Tôi lúng túng trả lời:

– Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh xá Tiểu đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy. Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi Bịnh xá, đứng trên Quốc lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

NĐC

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

MƯỜI TUYỆT SẮC GIAI NHÂN CỦA KIM DUNG


MƯỜI TUYỆT SẮC GIAI NHÂN CỦA KIM DUNG
Trong sự nghiệp, nhà văn Kim Dung chỉ sáng tác 14 bộ tiểu thuyết và một bộ truyện ngắn tên là Việt nữ kiếm. Ông đã từng dùng 14 bộ tiểu thuyết này để viết nên đôi câu đối: Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc, Tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên
Tạm dịch ra là: Tuyết bay đầy trời bắn hươu trắng, Cười sách thần hiệp dựa uyên xanh
14 bộ tiểu thuyết của ông bao gồm:
1. Thư Kiếm Ân Cừu Lục: (1955)
2. Bích Huyết Kiếm: (1956):
3. Xạ Điêu Anh Hùng Truyện (Anh Hùng Xạ Điêu) (Xạ Điêu Tam Bộ Khúc I): (1957):
4. Thần Điêu Hiệp Lữ (Thần Điêu Đại Hiệp) (Xạ Điêu Tam Bộ Khúc II): (1959):
5. Tuyết Sơn Phi Hồ: (1959):
6. Phi Hồ Ngoại Truyện (Lãnh Nguyệt Bảo Đao) (Tiền Tuyết Sơn Phi Hồ): (1960):
7. Bạch Mã Khiếu Tây Phong: (1961):
8. Uyên Ương Đao: (1961):
9. Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Cô Gái Đồ Long) (Xạ Điêu Tam Bộ Khúc III): (1961):
10. Liên Thành Quyết (1963):
11. Thiên Long Bát Bộ (Lục Mạch Thần Kiếm): (1963): 12. Hiệp Khách Hành: (1965):
13. Tiếu Ngạo Giang Hồ: (1967):
14. Lộc Đỉnh Ký: (1967-1972):
15. Việt Nữ Kiếm (Truyện ngắn): (1970):
Ngoài việc tạo ra hàng loạt anh hùng võ nghệ cao cường, tiểu thuyết Kim Dung còn xây dựng một dàn mỹ nhân với tài và sắc khiến người đọc mê mẩn. Người đọc đã đưa ra bình chọn để tìm ra mỹ nhân tài sắc vẹn toàn nhất trong truyện Kim Dung. 
Căn cứ vào cơ sở nào để Kim Dung dựng nên những tuyệt sắc giai nhân trong kiếm hiệp của ông ta, trước nhất là ông dựa vào vài nhân vật đã có thật trong lịch sử Tàu như Kha Tư Lệ, Trần Viên Viên, Kiến Ninh công chúa, dựa vào con gái rượu và những người đàn bà từng đi qua đời ông như Đỗ Dã Phân, Chu Mai, Lâm Nhạc Di và Hạ Mộng.
 
Giang Hồ độc giã đã sắp hạng thứ tự từ 1 đến 10 như sau: Nhậm Doanh Doanh, Vương Ngữ Yến, Tiểu Long Nữ, Hoàng Dung, Hương Hương công chúa Kha Ty Lệ, A Châu, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược, Quách Phù, Trình Anh.
Còn Kim Dung đã sắp hạng thứ tự từ 1 đến 10 như sau: Nhậm Doanh Doanh, Tiểu Long Nữ, Vương Ngữ Yến, Triệu Mẫn, Hoàng Dung, Quách Tương, Hương Hương Công Chúa, Chu Chỉ Nhược, Lý Mạc Sầu, Trình Anh.

1/ TRÌNH ANH: thuở nhỏ được Hoàng Dược Sư cứu thoát khỏi tay Lý Mạc Sầu rồi được ông thu nhận làm đệ tử. Trình Anh đã cứu thoát Dương Quá ra khỏi Loạn thạch trận khi chàng cùng mẹ con Hoàng Dung đang bị Kim Luân pháp vương vây khốn. Trình Anh thầm yêu Dương Quánhưng không được đáp lại. Ở Tuyệt tình cốc, nàng cùng với Dương Quá và Lục Vô Song ba người kết làm anh em. Sau này nàng cùng với Lục Vô Song (chị em họ) và cô Ngốc ẩn cư ở vùng Gia Hưng. Trình Anh cũng cùng với sư phụ tham gia trận Nhị thập bát tú bảo vệ thành Tương Dương.

2/ LÝ MẠC SẦU: (Li Mochou – 李莫愁, có bản dịch là Lý Mạc Thu), ngoại hiệu là Xích Luyện Tiên Tử và là đồ đệ của phái Cổ Mộ. Bà là người có võ công khá cao, diện mạo thuộc vào hàng mỹ nhân nhưng trong lòng lại chứa đựng đầy rẫy những căm hận về tình yêu, sinh ra tàn ác, giết hại rất nhiều người. Về sau Lý Mạc Sầu bị chết ở Tuyệt tình cốc sau khi tự vẫn nhảy vào biển lửa, vẫn với câu hát “Hỡi thế gian, tình là chi…” cho đến lúc chết. Nổi tiếng giang hồ với công phu: Ngũ Độc Thần Chưởng và Băng Phách Ngân Châm. Khi còn trẻ, Lý Mạc Sầu từng yêu say đắm Lục Triển Nguyên nhưng sau đó Lục Triển Nguyên bội ước, lấy Hà Nguyên Quân làm vợ. Cuộc tình tan vỡ trong quá khứ đã khiến Lý Mạc Sầu trở thành một con người tàn nhẫn và độc ác. Người có thể yêu nồng nàn, say đắm như Lý Mạc Sầu vốn đã hiếm, nhưng khi hận thì có thể hận đến tột cùng, điên dại như thế lại càng hiếm hơn. Lý Mạc Sầu đã yêu và hận theo cái cách mà chưa ai dám làm từ trước tới nay. Vì tình yêu, nàng phá bỏ lời thề của phái Cổ Mộ, mang tiếng phản đồ. Vì tình yêu, nàng vứt bỏ cả trinh bạch, lễ tiết của người theo đạo. Để rồi vì tình yêu nàng phải ôm mối hận trong lòng đến trọn kiếp người.
3/ CHU CHỈ NHƯỢC (Ỷ thiên đồ long ký): Là một nhân vật giả tưởng trong truyện Ỷ thiên đồ long ký. Chu Chỉ Nhược là một cô gái rất xinh đẹp. Trong một lần chở Thường Ngộ Xuân qua sông trước sự truy sát của quan quân triều đình cha cô đã bị giết chết. Lúc này Trương Tam Phong và Trương Vô Kỵ đang đi tìm thầy chữa chứng âm hàn do trúng Huyền minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão cũng vừa đến nơi bèn ra tay giúp đỡ đánh đuổi quan quân triều đình. Lúc này Trương Vô Kỵ đang bị Huyền minh thần chưởng hành hạ. Chu Chỉ Nhược mặc dù chỉ là cô bé khoảng mười tuổi nhưng đã tỏ ra dịu dàng ân cần chăm sóc cho Trương Vô Kỵ. Thường Ngộ Xuân cùng Trương Vô Kỵ đến Hồ Điệp Cốc để nhờ Điệp cốc y tiên Hồ Thanh Ngưu chữa trị. Lúc chia tay bên bờ sông Hán Thủy, Chu Chỉ Nhược đã lấy khăn tay lau nước mắt cho Trương Vô Kỵ và tặng luôn chiếc khăn thêu này cho cậu. Sau đó Chu Chỉ Nhược được Trương Tam Phong đưa về núi Võ Đang nhưng phái Võ Đang không thu nhận nữ đệ tử nên sau đó ông dẫn lên Nga Mi và được Diệt Tuyệt Sư Thái đồng ý thu nhận làm đệ tử và truyền dạy võ công. Chu Chỉ Nhược hiền lành dễ bảo nên được Diệt Tuyệt Sư Tháiyêu mến. Có lẽ nhiều người không thích Chu Chỉ Nhược, nhưng khi đọc những dòng miêu tả của Kim Dung, hoặc xem cô trên màn ảnh, người ta không thể dửng dưng với vẻ đẹp trí tuệ của vị chưởng môn nhân đời thứ tư của phái Nga Mi này.
4/ HƯƠNG HƯƠNG CÔNG CHÚA: đó là cô gái người Hồi Kha Tư Lệ (còn gọi là Hương Hương công chúa). Nàng như tiên nữ hạ phàm. Lần đầu tiên gặp nàng, Trần Gia Lạc nhìn nàng trân trân không nói được lời nào. Triệu Tuệ dẫn quân đánh người Hồi nhưng khi quân lính thấy nàng đều ngỡ ngàng không muốn chiến đấu, từ quân đến tướng đều ngó nàng không chớp mắt, ngay cả hoàng đế Càn Long quyền lực đầy trời cũng xiêu lòng trước vẻ đẹp của nàng. Không chỉ đẹp, toàn thân của Kha Tư Lệ còn toát ra một mùi hương đặc biệt do thói quen thích ăn hoa của nàng (vì thế mới có tên gọi Hương Hương công chúa) khiến ai ngửi thấy cũng làm cho tâm hồn thoải mái, quên hết mọi sự đời. Bên cạnh vẻ đẹp bề ngoài, Kha Tư Lệ còn có tâm hồn trong sáng thánh thiện. Nàng luôn cười với mọi người, quan tâm đến mọi người, nàng nhìn cuộc đời đâu đâu cũng là điều tốt đẹp. Nàng yêu quý động vật, nhân từ với chính kẻ đã hại mình. Chính nụ cười ấy, ánh mắt ấy, tâm hồn ấy đã hớp hồn nhiều người, trong đó có tổng đà chủ Hồng Hoa Hội Trần Gia Lạc, bên cạnh nàng, Trần Gia Lạc cảm thấy vui vẻ tự nhiên, tất cả áp lực nào là dẫn dắt anh em, nào là khôi phục nhà Hán, đánh đuổi Mãn Châu đều bị chàng ta quẳng sang 1 bên. Bên cạnh nàng, Trần Gia Lạc thấy mình tự tin hơn hẳn, sẳn sàng đối đầu với mọi thử thách trên đời. Từ bao giờ, Trần Gia Lạc đã yêu Kha Tư Lệ rồi và chính Kha Tư Lệ cũng yêu say đắm Trần Gia Lạc vì sự anh hùng can đảm, nhất là chi tiết Trần Gia Lạc bất chấp nguy hiểm hái bông hoa tuyết liên, đã làm cho nàng cảm động rơi nước mắt. Nàng yêu Trần Gia Lạc, luôn tin tưởng chàng ta, luôn xem chàng là người giỏi nhất. Vì thế, khi Trần Gia Lạc đối đầu với nguy hiểm, tất thảy mọi người đều lo lắng, chỉ riêng Kha Tư Lệ là không. Nhưng thật xui xẻo cho nàng khi Càn Long đã để ý và dùng mọi thủ đoạn ép nàng làm phi. Kha Tư Lệ không chấp nhận điều đó vì trong trái tim nàng chỉ có hình bóng Trần Gia Lạc, tuy nhiên nàng lại sẳn sàng hi sinh tình yêu, sẵn sàng chiều theo Càn Long chỉ vì đó là ý của Trần Gia Lạc. Khi biết quần hùng bị trúng kế, nàng đã hi sinh thân mình để cảnh báo cho mọi người. Đó là quyết định khiến nàng rất trăn trở, vì đức tin không cho phép con người ta tự sát. Nhưng trong sâu thẳm tâm trí nàng, tình yêu là đức tin mạnh mẽ nhất. Giây phút Kha Tư Lệ đâm dao vào ngực mình cũng là giây phút người đọc cảm thấy nhói lòng. Đau lòng thay, thương thay cho người con gái hồng nhan bạc phận. Kha Tư Lệ, phải chăng nàng là tiên nữ giáng trần? Đó không chỉ là câu hỏi của Trần Gia Lạc mà con là câu hỏi của toàn thể người đọc. Trong số những mỹ nhân của mình, nhà văn Kim Dung có vẻ ưu ái Hương Hương công chúa khi dành tất cả những câu chữ mỹ miều nhất để miêu tả nàng. Trong tác phẩm Thư kiếm ân cừu lục, Trần Gia Lạc yêu Hương Hương công chúa không chỉ là con người nàng, mà còn vì vẻ đẹp huyền ảo như trăng in đáy nước, hoa nở trong gương. Và rất nhiều khán giả nam đã xem hình ảnh Hương Hương công chúa như “người tình trong mộng”.
5/ QUÁCH TƯƠNG (Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký): (trong bản dịch trước năm 1975, nàng có tên là Quách Tường) là nhân vật trong tiểu thuyết Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung. Nàng cũng xuất hiện trong phần đầu của bộ truyện tiếp theo Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Quách Tương là tiểu nữ tử của cặp vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung nhưng nàng kém chị mình, Quách Phù tới gần mười tám tuổi. Quách Tương còn có một người em trai song sinh là Quách Phá Lỗ. Cái tên Tương là do mẹ nàng, Hoàng Dung đặt cho theo tên tòa thành họ đang trấn giữ, Tương Dương. Khác với người chị mình, Quách Tương có rất nhiều điểm giống mẹ, thông minh, khôn ngoan, lanh lợi, bướng bỉnh và cũng rất si tình. Quách Tương ra đời vào giữa lúc quân Mông Cổ đang tấn công thành Tương Dương, cha mẹ nàng đang trong tình thế rất nguy hiểm. Nàng được cặp tình nhân trẻ tuổi Dương Quá, Tiểu Long Nữ cứu sống, bao bọc, bảo vệ, được bú sữa báo để lớn lên. Trải qua nhiều lần sóng gió trong tay Lý Mạc Sầu, trong tòa Cổ Mộ, nàng mới chính thức quay về trong vòng tay của mẹ. Mười sáu năm sau, nàng gặp Dương Quá, khi này đã trở thành Thần điêu đại hiệp nổi tiếng. Quách Tương nhanh chóng say mê chàng.Tuy nàng theo Dương Quá đi bắt Cửu Vĩ Hồ Ly, được Dương Quá chu đáo tổ chức sinh nhật, tặng ba món quà lớn, được chàng cứu khi bị Kim Luân Pháp Vương bắt, và nàng cũng là người khuyên chàng đừng tự vận; nhưng Dương Quá chỉ một lòng yêu Tiểu Long Nữ. Quách Tương tuy buồn vì mối tình đơn phương nhưng khác với tình yêu ích kỷ ngu xuẩn của chị mình, Quách Phù dành cho Dương Quá, trong lòng nàng thật tâm mong Dương Quá và Tiểu Long Nữ có thể trùng phùng sống hạnh phúc bên nhau. Quách Tương tuy là 1 người ngây thơ xen lẫn cổ quái nhưng can đảm, rất hiểu chuyện. Trong 1 lần bị bắt, giặc đã cột nàng trên cao và ép Quách Tĩnh phải chọn lựa giữa nàng và thành. Quách Tĩnh tuy đau lòng nhưng trong lòng vẫn đặt dân lên hàng đầu mà quyết định chọn thành. Quách Tương nghe cha nói không những không oán trách mà còn gật đầu chấp nhận hy sinh để có thể cứu những người dân khác. Sau cùng may mắn nàng đã được Dương Quá và Tiểu Long Nữ kịp thời đến cứu giúp nên thoát nạn. Quách Tương chỉ xuất hiện trong những hồi đầu tiên của truyện. Lúc này là khoảng thời gian tiếp ngay sau sự kiện trong Thần Điêu Hiệp Lữ. Nàng một mình đi tìm vợ chồng Dương Quá, Tiểu Long Nữ nhưng không gặp. Nhờ cơ duyên, nàng học được một phần Cửu Dương Chân Kinh do đại sư giác viễn của thiếu lâm đọc lúc lâm chung , nàng cũng là bạn thâm niên của người sáng lập ra phái Võ đang là Trương Tam Phong. Sau khi đi khắp thiên hạ mà không tìm được tung tích của vợ chồng Dương Quá, cuối cùng nàng bỏ đi tu trên núi Nga My, trở thành tổ sư của phái Nga My. Nàng cũng là chủ sở hữu đầu tiên của ỷ thiên kiếm
6/ HOÀNG DUNG (Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ và Ỷ Thiên Đồ Long ký): Tiểu Đông tà Hoàng Dung là nhân vật có sức hút mãnh liệt. Nàng không chỉ là một thiếu nữ xinh đẹp mà còn rất thông minh, nhiều mưu trí, thiện ác phân minh, có chút kiêu ngạo. Hoàng Dung là nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Hoàng Dung cũng xuất hiện trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ (phần thứ hai của Xạ điêu tam bộ khúcbao gồm: Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ và Ỷ Thiên Đồ Long ký). Hoàng Dung là con gái duy nhất của đảo chủ đảo Đào Hoa, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Phùng Hằng. Nàng mồ côi mẹ từ nhỏ và được cha nuôi nấng, truyền thụ võ nghệ. Nàng còn là bang chủ đời thứ 18 của Cái Bang, nữ đồ đệ duy nhất của Bắc Cái Hồng Thất Công. Thê tử kết tóc của Bắc Hiệp Quách Tĩnh. Trong Anh hùng xạ điêu, Hoàng Dung được miêu tả là 1 tiểu cô nương khoảng 15 tuổi, thân hình nhỏ nhắn đáng yêu, khuôn mặt như đoá hoa sen Tây Hồ, giọng nói tựa ngọc khua. Có thể nói Hoàng Dung là nữ nhân vật được khắc hoạ rõ nét nhất của Kim Dung do cuộc đời nàng được miêu tả khá đầy đủ từ lúc còn là 1 tiểu cô nương 15 tuổi đến khi trở thành thiếu phụ. Tính cách Hoàng Dung khá giống với cha mình, nàng thông minh, nhanh trí, nhiều mưu kế (được xem là nữ nhân vật thông minh nhất của Kim Dung) nhưng cũng rất đanh đá, cổ quái, thường làm việc theo ý mình. Cũng vì vậy mà võ công nàng học được từ cha rất nhiều nhưng đều không đến nơi. Vẻ đẹp cùng tính cách hoạt bát và trí tuệ hơn người của đã khiến nàng chiếm được cảm tình của nhiều người trong lần đầu gặp mặt cũng như phần nào giúp nàng thoát chết trước kẻ địch do họ “không nỡ hạ sát thủ” với nàng. Tuy thông minh, cổ quái nhưng Hoàng Dung cũng rất ngây thơ, đơn thuần đặc biệt là trong chuyện tình cảm với Quách Tĩnh. Đối với nàng, tình yêu đơn giản là cảm giác hạnh phúc và sự quyến luyến không nỡ rời xa đối với Quách Tĩnh. Quá ngây thơ trong vấn đề tình ái nam nữ nên vài lần nàng đã vô tình khiến Hồng Thất Công và Nhất đăng đại sư lúng túng….Tuy tính tình cổ quái, bướng bỉnh nhưng Hoàng Dung luôn hết lòng bảo vệ người mình yêu quý và cả nguời thân của họ. Điển hình là lúc Quách Tĩnh muốn hạ thủ với người cái bang khi cả 2 bị bao vây bởi kiên bích trận thì bị nàng phản đối chỉ vì họ là huynh đệ của sư phụ và cảm thấy bọn họ là người tốt. Dù không thích Dương Quá và lo sợ Dương Quá sẽ giống như Dương Khang nhưng nàng vẫn luôn mong muốn Dương Quá có thể trở thành người tốt, không rơi vào thảm cảnh vạn kiếp bất phục như Dương Khang (đó cũng là 1 trong những lí do khiến nàng chia rẽ Dương Quá và Tiểu Long Nữ). Nội tâm Hoàng Dung rất sâu sắc, phần lớn do ảnh hưởng từ cái chết trẻ của mẹ, tình yêu của cha dành cho mẹ và bản thân đối với Quách Tĩnh nên nàng đã sớm nhận ra nỗi khổ của đời người, và theo nàng thì “những thứ càng có linh tính càng dễ dàng mất đi”, nàng luôn lo sợ mình sẽ giống như mẹ (ý nói người xinh đẹp, tài năng thường không có kết thúc tốt). Kết cục của gia đình nàng về sau phần nào đã đúng….
7/ TRIỆU MẪN (Ỷ Thiên Đồ Long Ký): (chữ Hán: 赵敏; phiên âm: zhào mĭn) là một nhân vật trong tiểu thuyết của Kim Dung, người Mông Cổ, con gái của Nhữ Dương Vương Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ thời nhà Nguyên, em gái của Khố Khố Đặc Mục Nhĩ (hay còn gọi là Vương Bảo Bảo). Trong bản in lần thứ nhất của Ỷ thiên đồ long ký, Triệu Mẫn có tên là Triệu Minh, tên thật là Minh Minh Đặc Mục Nhĩ, phong hiệu là Triệu Minh quận chúa. Trong bản in lần thứ hai, Triệu Minh đổi tên là Triệu Mẫn, tên thật là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ, phong hiệu là Triệu Mẫn quận chúa. Triệu Minh hay Triệu Mẫn đều là tên Hán do cô tự đặt cho mình. Triệu Mẫn là cành vàng lá ngọc trong phủ Nhữ Dương Vương. Nàng sinh ra trong nhung lụa, không thiếu thốn một thứ gì, có đầy đủ tình thương từ cha mẹ, anh trai. Trong Vương phủ, vô số người hầu kẻ hạ, liệu ai dám trái ý nàng, đến ngay cả cha nàng, anh nàng cũng phải chịu thua khi nàng dọa tự tử. Triệu Mẫn là người thông minh, mưu trí: hạ độc các cao thủ của Minh Giáo, lừa Trương Vô Kỵ ngã xuống hầm tối, minh oan cho Trương Vô kỵ không giết Mạc Thanh Cốc, bắt giữ Tạ Tốn để chiếm đao Đồ Long, phá đám cưới của Chu Chỉ Nhược. Triệu Mẫn từ nhỏ muốn gì được nấy nên nàng công khai chuyện tình cảm, sẵn sàng giũ bỏ tất cả để theo Trương Vô Kỵ. Triệu Mẫn xứng đáng trong tình yêu vì nàng dám vứt bỏ tất cả gia đình, danh vọng, quyền lực để theo Trương Vô Kỵ. Ở nàng không chỉ có nhan sắc mà còn hội đủ nhiều điểm hấp dẫn như trí tuệ, dũng khí và đặc biệt là “rất phụ nữ”. Chính nhà văn Kim Dung thừa nhận, Triệu Mẫn là nhân vật “phụ nữ nhất trong số những phụ nữ” mà ông sáng tạo ra. Triệu Mẫn cũng cho thấy sự khôn ngoan của mình khi lừa được các nhân sĩ võ lâm các phái phô bày các chiêu thức của họ. Mặc dù là kẻ thù của Trương Vô Kỵ, nhưng cô lại phải lòng chàng và yêu cầu cho mình được đi theo trong các chuyến đi, như là một trong ba điều kiện cô bắt Vô Kỵ phải hứa nếu muốn cô thả các nhân sĩ võ lâm ra. Ở Linh Xà đảo, cô tỏ tình với người mình yêu cũng rất mạnh mẽ nhưng không kém phần chân thành, giản dị, đáng yêu, không e dè khép nép như những cô gái Trung Hoa. Cuối cùng, Trương Vô Kỵ nhận ra rằng Triệu Mẫn mới chính là tình yêu đích thực của đời mình. Cả hai quyết định rửa tay gác kiếm, rút khỏi giang hồ sau khi Vô Kỵ tưởng rằng thuộc cấp của chàng định âm mưu giết chàng để tranh giành quyền lực. Chàng đã nhường lại chức giáo chủ Minh giáo cho Quang Minh tả sứ Dương Tiêu, lui về ẩn cư tại Băng Hỏa đảo, sống một cuộc sống mới giản dị và hạnh phúc bên Triệu Mẫn đến suốt đời. Trong tập cuối, Triệu Mẫn yêu cầu Vô Kỵ thực hiện điều kiện thứ ba là mỗi ngày, đều giúp cô kẻ chân mày.
8/ VƯƠNG NGỮ YẾN (Thiên Long Bát bộ): (phồn thể: 王語嫣; Trung văn giản thể: 王语嫣; Bính âm Quan Thoại: Wáng Yǔyān; Việt bính: Wong4 Jyu5-jin1) là một nhân vật hư cấu trong bộ truyện Thiên Long Bát bộ của nhà văn Kim Dung. Trong các bản dịch tiếng Việt đầu tiên của nhà văn Hàn Giang Nhạn, nhân vật này có tên là Vương Ngọc Yến. Là hoàng hậu của nước Đại Lý, vợ chính thức của hoàng đế Đoàn Dự theo như nguyên tác. So với những nhân vật nữ khác trong tiểu thuyết Kim Dung, Vương Ngữ Yến trong Thiên long bát bộ không để lại nhiều ấn tượng sâu sắc vì hình ảnh của cô quá hoàn hảo – hoàn hảo đến “phẳng lỳ”. Xét về nhan sắc, có thể nhiều người cho rằng Vương Ngữ Yến đẹp nhất, song cuộc đời của nàng chỉ “một màu” nên kém hấp dẫn hơn Tiểu Long Nữ. Vương Ngữ Yên là cô gái có nhan sắc thông minh, được trời phú cho một trí tuệ mẫn tiệp hơn người, thuộc làu mọi kinh sách võ thuật trong thiên hạ. Vì sắc đẹp ấy, Đoàn Dự đã yêu nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên, khiến chàng nhớ đến vẻ đẹp của “Thần tiên tỉ tỉ”, tượng một người dì của Vương Ngữ Yên mà chàng tình cờ tìm thấy. Vương Ngữ Yên được trời phú cho một trí tuệ mẫn tiệp hơn người, cô thuộc làu hầu như mọi kinh sách võ thuật trong thiên hạ (ngoại trừ Lục mạch thần kiếm do Đoàn Dự là người duy nhất luyện thành công), đến nỗi ai đánh một chiêu một thức cô đều gọi đúng tên chiêu thức đó, đồng thời biết luôn cả cách phá giải. Vô tình cô trở thành quyển từ điển sống võ học, và do cô không hề biết võ công, nên nhiều thế lực thèm khát bắt cóc được cô để làm áp lực với họ Mộ Dung và để cô dạy cho mình những đòn thế võ công thất truyền. Cô được mô tả lai lịch là con gái của Đoàn Chính Thuần và Vương Phu nhân. Đoàn Dự yêu cô ngay từ cái nhìn đầu tiên do cô có cùng vẻ đẹp với “Thần tiên tỉ tỉ”, tượng bà ngoại của Ngữ Yên mà anh tình cờ tìm thấy. Anh bắt đầu đi theo cô ở khắp mọi nơi cô đi, dẫn đến sự khó chịu của Mộ Dung Phục. Mặc dù lúc đầu không để ý đến Đoàn Dự, cô từ từ chú ý đến với anh sau khi anh nhiều lần cứu cô. Sau khi nhận ra sự ám ảnh của Mộ Dung Phục về việc phục quốc trong việc cầu hôn với công chúa Tây Hạ, cô cố gắng tự tử nhưng được cứu sống. Đoàn Dự đối mặt với Mộ Dung Phục và nói rằng anh cũng sẽ cầu hôn công chúa Tây Hạ trong một nỗ lực để buộc Mộ Dung để quay trở lại Ngữ Yên. Mộ Dung giận dữ và đẩy Đoàn Dự vào giếng sâu. Vương Ngữ Yên do đó mới nhận ra rằng Mộ Dung Phục chưa bao giờ yêu mình và cô ném mình vào giếng để tự sát cùng Đoàn Dự. Mộ Dung Phục không ra tay ngăn cản. Cả Đoàn Dự và Ngữ Yên đều sóng sót, tiết lộ tình yêu của họ dành cho nhau, và cuối cùng rời khỏi giếng một cách an toàn. Vương Ngữ Yên sau đó trở nên đau khổ khi phát hiện ra rằng mình là con gái của Đoàn Chính Thuần và do đó là em gái của Đoàn Dự. Đoàn Dự sau đó nói với cô rằng họ vẫn có thể được ở bên nhau, vì cha đẻ của Đoàn Dự là Đoàn Diên Khánh thay vì Đoàn Chính Thuần. Trong cuộc phiêu lưu của mình, Đoàn Dự gặp được một số thiếu nữ trẻ đẹp và phải lòng họ. Tuy nhiên, từng người một, các thiếu nữ này được tiết lộ là chị em của Đoàn Dự do mối quan hệ của cha anh với nhiều người phụ nữ. Trong số những thiếu nữ này, anh bị ám ảnh với Vương Ngữ Yên do cô có cùng một vẻ ngoài với một bức tượng của một người phụ nữ đẹp như tiên mà anh tình cờ gặp phải. Anh cố gắng giành được trái tim của Ngữ Yên trong khi cô lại phải lòng người anh em họ Mộ Dung Phục. Vương Ngữ Yên cuối cùng nhận ra rằng anh là người thực sự yêu cô và họ đã kết hôn. Đoàn Dự sau khi trở thành Hoàng đế nước Đại Lý đã lập nàng làm Hoàng hậu. (Trong phiên bản mới nhất, mối quan hệ lãng mạn của Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên bị hoen ố bởi một loạt các sự cố, khiến cho cặp đôi này bị chia
9/ TIỂU LONG NỮ: Tiểu Long Nữ là một tuyệt sắc giai, đứng đầu danh sách những mỹ nhân của nhà văn võ hiệp này. Tiểu Long Nữ là một đứa trẻ mồ côi được chưởng môn sư thái đời thứ 2 của phái Cổ Mộ nhặt về nuôi và nhận làm đệ tử. Năm 14 tuổi, sư phụ Tiểu Long Nữ vì bảo vệ mật thất cổ mộ đã qua đời. Bà để lại cho nàng chức chưởng môn và toàn bộ mật thất cổ mộ. Năm 18 tuổi, Tiểu Long Nữ đã là một thiếu nữ quốc sắc thiên hương, chỉ cần nhìn qua là mê là đắm nhưng vì chưa bao giờ ra ngoài nên nàng giống như Tiên nữ chưa vướng bụi trần, “trong sáng như gương, dịu dàng như ngọc”. Tiểu Long Nữ là tên một nhân vật nữ được sáng tạo bởi Kim Dung. Cùng với Dương Quá, nàng là nhân vật chính của bộ tiểu thuyết kiếm hiệp “Thần điêu hiệp lữ“. “Bạch y thiếu nữ tú mỹ này chính là Tiểu Long Nữ, chủ nhân của Hoạt Tử Nhân Mộ này. Nàng đã mười tám tuổi, có điều sống lâu trong hầm mộ, không có ánh nắng, nội công tu luyện lại theo đường khắc chế tâm ý nên trông trẻ hơn các thiếu nữ cùng trang lứa tới mấy tuổi.” Tiểu Long Nữ từ nhỏ đã sống trong Cổ Mộ, lại được dạy dỗ nghiêm khắc bởi sư phụ nên rất ngây thơ nhưng lạnh lùng, ít nói, suy nghĩ lại chất phác, đơn thuần, thường thể hiện ra ngoài vẻ thờ ơ, có chút vô tình. Bản tính nàng trầm mặc lạnh lùng nhưng đối với Dương Quá lại hết mực dịu dàng, nồng ấm, chu đáo. Tên “Tiểu Long Nữ” là do sư phụ nàng đặt và nàng được yêu quý như thánh nữ. Năm nàng 14 tuổi, sư phụ Tiểu Long Nữ vì bảo vệ mật thất cổ mộ đã qua đời. Bà để lại cho nàng chức chưởng môn và toàn bộ Mật thất Cổ Mộ. Lý Mạc Sầu muốn có được “Ngọc Nữ Tâm Kinh”, bộ tâm pháp do Tổ sư Lâm Triều Anh để lại, lan truyền khắp nơi rằng sư muội là Tiểu Long Nữ đang mở hội tỉ võ chiêu thân. Người được chọn làm lang quân của nàng sẽ được thừa hưởng tất cả những võ công tuyệt diệu của phái Cổ Mộ tại núi Chung Nam. Hay tin đó, không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt trong thiên hạ lẫn hàng vương tôn công tử như Hoắc Đô cũng đến cầu hôn, gây bao nhiêu rắc rối cho đám đạo sĩ của phái Toàn Chân ở gần đó. Cũng chính vào năm này, Quách Tĩnh đưa Dương Quá tới cung Trùng Dương học nghệ. Vì bị sư phụ cùng các sư huynh ăn hiếp, do đánh lại sư huynh, Dương Quá chạy trốn khỏi Toàn Chân Giáo. Chàng tình cờ lạc vào Mật thất Cổ mộ và gặp Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ ban đầu không đồng ý choDương Quá ở lại, bắt buộc Tôn bà bà phải đưa Dương Quá rời đi. Đến Cung Trùng Dương thì Hách Đại Thông lỡ tay đả trọng thương Tôn bà bà. Tiểu Long Nữ đến đưa bà và đem Dương Quá về Hoạt Tử Nhân Mộ. Trước lúc chết, Tôn bà bà có xin Tiểu Long Nữ lo cho Dương Quá cả đời. Tiểu Long Nữ đồng ý và bắt đầu truyền dạy võ công phái Cổ Mộ và cách thức chỉ huy đàn ong mật đánh trận cho Dương Quá. Bốn năm sau, tình cờ Âu Dương Phongxuất hiện ở núi Chung Nam. Do bị tẩu hỏa nhập ma, Âu Dương Phong nhận nhầm Dương Quá là Dương Khang, nghĩa tử của y, và muốn truyền dạy võ công cho Dương Quá. Tiểu Long Nữ bị Âu Dương Phong phong tỏa huyệt đạo để đề phòng nàng đi theo, và dẫn Dương Quá đi nơi khác luyện công. Chính vì thế, Tiểu Long nữ đã bị Doãn Chí Bình dễ dàng làm nhục. Tiểu Long Nữ vì bị vải che mắt, cứ ngỡ là Dương Quá làm chuyện này. Nhưng khi bị nàng hỏi, ngỏ ý muốn trở thành một đôi vợ chồng thì Dương Quá lại chẳng hay biết gì, vô tình nói những lời khiến nàng đau khổ đến nỗi nàng phải bỏ đi.Dương Quá sau đó rất hối hận và nhận ra tình cảm của mình với Tiểu Long Nữ. Chàng liền đi khắp nơi tìm Tiểu Long Nữ để mong nàng tha thứ và chàng luôn xem Tiểu Long Nữ là vợ mình. Trải qua nhiều biến cố, mối tình sâu đậm giữa hai người tuy đi ngược lại quan niệm, đạo lý của xã hội Trung Hoa cổ nhưng vẫn có kết cục viên mãn nhờ sức mạnh tình yêu, sự thủy chung vượt lên mọi rào cản. Tiểu Long nữ và Dương Quá quy ẩn giang hồ, sống một cuộc sống tự do tự tại.
10/ NHẬM DOANH DOANH (Tiếu ngạo giang hồ): (任盈盈 – Ren Ying Ying), là tên một nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung, xuất hiện trong bộ tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, là nữ giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo, con gái duy nhất của Nhậm Ngã Hành và vợ Tuyết Tâm. Là một trong những nhân vật nữ được yêu thích nhất trong các tác phẩm của Kim Dung, Nhậm Doanh Doanh mang nhiều hình ảnh của một cô gái hiện đại, yêu và sẵn sàng hy sinh cho tình yêu, mong manh nhưng không yếu đuối. Chính những điều ấy đã tôn thêm vẻ đẹp của cô trong Tiếu ngạo giang hồ. Kết truyện, Nhậm Doanh Doanh trở thành vợ của Lệnh Hồ Xung, được người trong giáo phái này kính trọng gọi là Thánh cô. Nhậm Ngã Hành vì mải mê luyện hấp tinh đại pháp nên bị Đông phương bất bại lén ám toán, giam giữ dưới hắc lao dưới Tây Hồ, khi đó cô còn nhỏ nên đã không biết rõ câu chuyện. Để che mắt giáo chúng, Đông phương Bất Bại đã phong cho Doanh Doanh chức vụ cao của Nhật Nguyệt thần giáo và chăm sóc cô tử tế. Vì Doanh Doanh đối xử rất tốt với giáo chúng bên dưới, luôn cứu giúp họ (đặc biệt trong việc cầu xin Đông phương Bất bại cấp cho họ thuốc giải Tam thi não thần đan nên được các kì nhân dị sĩ Ma giáo đặc biệt kính trọng, gọi Doanh Doanh là Thánh cô. Khi Nhậm Doanh Doanh cùng với Lục trúc ông trú ẩn ởLạc Dương, cô đã vô tình quen với Lệnh Hồ Xung nhờ tài nghệ âm nhạc và được chàng tặng khúc phổ Tiếu ngạo giang hồ. Vì Lục trúc ông gọi Doanh Doanh là cô cô (sau này cô giải thích là do cha cô là Nhậm Ngã Hành là sư thúc của cha Lục trúc ông) nên khiến cho Lệnh Hồ Xung nhầm tưởng cô là một bà lão. Khi hiểu cảnh ngộ và tâm sự trong lòng Lệnh Hồ Xung, cô đã thầm yêu chàng và ra lệnh cho toàn bộ thuộc hạ của mình tìm cách cứu giúp và bảo vệ chàng. Cũng qua Doanh Doanh, các kỳ nhân dị sĩ Ma giáo đã kết bạn với Lệnh Hồ Xung và cực kỳ hâm mộ chàng. Khi gặp nhau ở Lạc Dương, Doanh Doanh đã dùng đàn cầm chơi bản Thanh tâm phổ thiện chú giúp cho Lệnh Hồ Xung trị nội thương, sau đó dạy cho Lệnh Hồ Xung chơi đàn khi chàng thỉnh cầu (thực ra là do Lục Trúc Ông mách nước). Trong thời gian học đàn này, Lệnh Hồ Xung vô tình thổ lộ tâm sự thầm kín về tình yêu với sư muội Nhạc Linh San và những bi kịch vừa xảy ra với chàng. Doanh Doanh nảy sinh tình cảm với Lệnh Hồ Xung từ đó và thầm ước mong cùng chàng cầm tiêu hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ. Sau đó Lệnh Hồ Xung lang thang giang hồ với tấm thân bệnh tật không ai có thể cứu được kể cả danh y lúc ấy là Bình Nhất Chỉ. Doanh Doanh đã âm thầm theo dõi để giúp đỡ, cô có quyết định kỳ quặc khi ra lệnh giết người yêu để giữ Lệnh Hồ Xung bên mình. Cô tình nguyện chịu tội trên Thiếu lâm tự 10 năm để đánh đổi việc Thiếu lâm tự đem Dịch cân kinh cứu Lệnh Hồ Xung (trước đó, Doanh Doanh đã giết chết một số nhân vật Thiếu lâm tự). Việc này đã khiến Lệnh Hồ Xung thành “minh chủ” dẫn một đám ô hợp lên Thiếu Lâm tự cứu Doanh Doanh (nhờ Mạc Đại tiên sinhcho chàng biết sự thật). Và sau đó, cả hai đã đến với nhau. Doanh Doanh đã hết lòng giúp Lệnh Hồ Xung xây dựng vị trí ở Ngũ nhạc kiếm phái, và bảo vệ chàng trước sức ép của Nhậm Ngã Hành. Đoạn kết câu chuyện, Nhậm Ngã Hành chết đột ngột do bị những luồng chân khí xung đột lẫn nhau, Doanh Doanh lên làm giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo đã hóa giải toàn bộ ân oán của giáo phái này với giang hồ, nàng lên Hằng Sơn xin lỗi các phái Thiếu Lâm, Võ Đang, sau đó cùng Lệnh Hồ Xung kết hôn, bỏ mọi danh lợi, hào quang lấp lánh trên đời và đi ngao du, cùng nhau hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ. Nhậm Doanh Doanh là Thánh Cô của Nhật Nguyệt Thần Giáo, lại là con gái của Nhậm Ngã Hành nên nàng là người đầy quyền uy, dưới một người mà trên cả vạn người, lần nàng xuất hiện trên Gò Ngũ Bá đã khiến cho quần hào phải bỏ ra Nam Hải, nàng giết người cũng không gớm tay. Tuy nhiên, Doanh Doanh thực ra là mẫu người phụ nữ hết sức e thẹn trong chuyện tình cảm, nhưng hết lòng hi sinh vì người mình yêu. Vì người yêu, nàng cũng sẵn sàng làm bạn và rất bao dung với Nhạc Linh San, tình địch của mình, người từng khiến cho Lệnh Hồ Xung thất điên bát đảo.
Mỹ nhân thiên hạ nhiều vô kể
Thử hỏi tri âm được mấy người
Duyên tương ngộ, tình tương tri, tâm tương thích. Doanh Doanh đối với Lệnh Hồ Xung, không chỉ là tình yêu nam nữ, mà còn là người tri kỷ, người thấu hiểu Lệnh Hồ Xung hơn ai hết, hiểu từ những cử chỉ, những nét mặt, những hành động, những lời nói.
NHỮNG NGƯỜI ĐẸP KHÁC
A Kha và Trần Viên Viên (Lộc đỉnh ký): Thừa hưởng nhan sắc của mẹ là Trần Viên Viên nên dưới ngòi bút Kim Dung, A Kha cũng là một mỹ nhân “khuynh quốc khuynh thành” trong Lộc đỉnh ký. Tuy vậy, sức hấp dẫn của cô không thể bằng Song Nhi và khi viết về A Kha, Kim Dung cũng không thật ưu ái, vì thế mà nhân vật này không phải ai cũng yêu thích. A Kha là nhân vật trong Lộc đỉnh ký, cô vợ xinh đẹp nhất của Vi Tiểu Bảo. Nhan sắc của A Kha khiến chàng thái giám dỏm phải lặng người vì “ngọc trắng đính cườm cũng không bì được với vẻ đẹp lộng lẫy của nàng, hoa hồng chớm nở cũng không sánh lại được với vẻ đẹp thanh tú, diễm lệ của nàng”. Thế nhưng khi so với mẹ – Trần Viên Viên, sắc đẹp của A Kha phải đứng cách xa hàng trăm dặm. Chính Vi Tiểu Bảo vẫn xiêu lòng trước tài sắc của người phụ nữ gấp đôi tuổi mình. Trần Viên Viên là nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa, từng được xưng tụng là một trong “Tần Hoài bát diễm” (Tám người đẹp của Tần Hoài) và cũng bị quy cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh chiếm Trung Nguyên.
Hoắc Thanh Đồng (Thư kiếm ân cừu lục): Đại diện cho vẻ đẹp của dân tộc Hồi Cương, Hoắc Thanh Đồng là nhân vật nữ chính trong tác phẩm Thư kiếm ân cừu lục, được Kim Dung miêu tả như một viên ngọc không tỳ vết, kiên cường, thông minh, võ công cao cường.
Kiến Ninh công chúa (Lộc đỉnh ký): Đây là một nhân vật có thật trong lịch sử, Kiến Ninh là muội muội của hoàng đế Thuận Trị, cô ruột của Khang Hy, tuy nhiên, trong Lộc đỉnh ký, Kiến Ninh lại trở thành em gái Khang Hy. Không giống với những nàng công chúa khác, Kiến Ninh công chúa có tính cách ngang ngạnh, tinh nghịch, thẳng thắn, quyết đoán, vì Vi Tiểu Bảo mà từ bỏ vinh hoa phú quý. Cô trở thành một trong 7 người vợ của Vi Tiểu Bảo.
Tô Thuyên (Lộc đỉnh ký): Ngoài võ nghệ cao cường, bản lĩnh, người đẹp Tô Thuyên còn sở hữu vẻ đẹp tuyệt sắc giai nhân. Trong số 7 người vợ của Vi Tiểu Bảo, xét về nhan sắc thì Tô Thuyên chỉ dưới A Kha. Ngoài ra, nàng còn có nhiều cái nhất so với 6 người đẹp còn lại: Nhiều tuổi nhất, bản lĩnh nhất, võ công cao cường nhất. Do đó, khi về với Vi gia, Tô Thuyên nghiễm nhiên trở thành dâu cả, là người lãnh đạo trong số 7 bà vợ của Vi Tiểu Bảo.
Lục Vô Song (Thần điêu hiệp lữ): Là thiên kim tiểu thư của Lục gia trang, sau vụ tàn sát gia đình, Lục Vô Song may mắn sống sót, cô được Lý Mạc Sầu nhận làm đệ tử. Lục Vô Song biến thành một con người tàn ác, trong lòng chất chứa nhiều hận thù. Cô có tình cảm với Dương Quá nhưng chỉ kết tình huynh muội. Lục Vô Song được gọi là mỹ nữ áo trắng, tuy nhiên, so với Tiểu Long Nữ – một mỹ nhân nổi tiếng với y phục trắng, cô có phần kém sắc hơn.
A Bích (Thiên long bát bộ): A Bích là một trong hai hầu gái của Mộ Dung Phục, sống ở Cầm Vận Tiểu Trúc, kế nghiệp Cầm Tiên Kha Quảng Lăng. Nàng có giọng nói mềm mại, tướng mạo diễm lệ, thích mặc màu xanh và giỏi đàn hát. Cô rất trung thành với Mộ Dung Phục và tiếp tục phục vụ anh ta ngay cả sau khi anh ta hóa điên.

Chung Linh (Thiên long bát bộ): Ban đầu, Chung Linh xuất hiện với tư cách là con gái của cốc chủ Vạn Kiếp cốc Chung Vạn Cừu và Tiết Dạ Xoa Cam Bảo Bảo. Tuy nhiên, khi tấm màn sự thật hé mở, nàng lại là con gái của Trấn Nam Vương nước Đại Lý Đoàn Chính Thuần, và là cháu ruột của đương kim hoàng đế nước Đại Lý Bảo Định Đế. Trong Thiên long bát bộ, ở tuổi 16, Chung Linh là một cô gái rất xinh xắn, nhí nhảnh, hồn nhiên, với mái tóc hai bím rất dễ thương. Cô còn gây thiện cảm bởi tính cách hồn nhiên, vô tư, trong sáng, thích giúp đỡ kẻ yếu, ghét những kẻ ngông cuồng, cậy mạnh bắt nạt yếu.

Ân Ly (Ỷ thiên đồ long ký): Ở tuổi 12, Ân Ly đã là một cô bé có khuôn mặt xinh xắn, đôi mắt long lanh như mặt nước hồ mùa thu. Khi lớn lên, vì luyện môn võ công âm độc Thiên Thù Vạn Độc Thủ mà dung mạo của cô bị hủy hoại, khuôn mặt sưng vù, cực kỳ xấu xí. Có người đánh giá Ân Ly là nhân vật có tính cách khá điên khùng. Người ta có thể nhìn thấy ở cô một sự cứng rắn pha chút manh động khi dám giết chết mẹ kế chỉ bởi vì bà ta được cha cô sủng ái, rồi cũng chỉ bởi vì anh chàng Tăng A Ngưu mà cô hạ sát Chu Cửu Chân. Thế nhưng bên ngoài vẻ tà giáo manh động ấy của cô, người ta còn thấy một tâm hồn trong sáng, một trái tim tình si, một tình cảm chân thành và bất diệt mà cô dành cho Trương Vô Kỵ.

Tiểu Chiêu (Ỷ thiên đồ long ký): Là cô gái mang trong mình hai huyết thống Hán tộc và Ba Tư, Tiểu Chiêu được thừa hưởng những nét đẹp của cả cha và mẹ, ở tuổi 15, Tiểu Chiêu đã như một bông hoa đẹp rực rỡ. Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Tiểu Chiêu là cô gái xinh đẹp nhất và cũng là người có số phận đau khổ nhất. Cô cũng là người con gái thông minh, kiến thức võ học uyên thâm và rất có bản lĩnh. Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Tiểu Chiêu là cô gái xinh đẹp nhất và cũng là người có số phận đau khổ nhất. Là con gái của Hàn Thiên Diệp và Thánh nữ Minh giáo Ba Tư, Tiểu Chiêu mang trong mình nét đẹp và tinh túy của cả 2 dân tộc. Cô gái nhỏ này đến Trung Nguyên qua Con đường tơ lụa để hoàn thành sứ mệnh mà mẹ cô còn dang dở – đánh cắp bộ Càn Khôn đại nã di tâm pháp. Mang ơn Trương Vô Kỵ, Tiểu Chiêu chăm sóc, phục vụ anh tận tình với tư cách “con hầu”. Nhưng “con hầu” ấy chính là người đã có công bảo vệ Minh giáo trước cuộc tấn công của quân Nguyên. Tiểu Chiêu rất đẹp, cái đẹp được kết tinh từ 2 dòng máu Hán tộc và Ba Tư. Cô cũng là người con gái thông minh, kiến thức võ học uyên thâm và rất có bản lĩnh. Nhưng quan trọng hơn tất cả, Tiểu Chiêu có một tấm lòng nhân hậu thật đáng quý. Để cứu mẹ – Kim Hoa bà bà – và đám người Trương Vô Kỵ, Tiểu Chiêu đã buộc phải tiết lộ thân phận thực sự của mình. Cô đã cắn răng hy sinh tình yêu đầu đời với Trương Vô Kỵ, tình yêu mà cô chôn chặt trong lòng bấy lâu, để trở về Ba Tư làm Thánh nữ.
Thủy Sinh (Liên thành quyết): Lạc lõng giữa dàn mỹ nhân của Thiên long bát bộ, Ỷ thiên đồ long ký, Thần điêu hiệp lữ… là Thủy Sinh – mỹ nhân của Liên thành quyết. Qua ngòi bút Kim Dung, Thủy Sinh được miêu tả là một mỹ nhân tuổi đôi mươi, dung mạo xinh đẹp, mặc y phục trắng với dải lụa đỏ cài trên đầu.
Song Nhi (Lộc đỉnh ký): Vừa là người hầu, vừa là bạn, Song Nhi đi theo Vi Tiểu Bảo như cái bóng, liều mình bảo vệ anh chàng họ Vi mỗi khi gặp nguy hiểm. Chính vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Song Nhi đã tô điểm cho cô gái nhỏ này trở thành mỹ nhân số 1 của Lộc đỉnh ký. Cô gái nhỏ này võ công cao cường, nhân phẩm đoan chính, có học vấn và có tấm lòng trung thành vô hạn đối với chủ. Khi trở thành một trong bảy người vợ của Vi Tiểu Bảo, cô vẫn giữ được phẩm giá chân chính của một người phụ nữ: Không hề cạnh tranh, so bì, tỵ nạnh. Vẻ đẹp của Song Nhi không phải là tầm thường. Ở bên trong cô gái bé nhỏ ấy là cả một nghị lực, sự nhẫn nại và lòng dũng cảm phi thường. Cô đi theo Vi Tiểu Bảo như cái bóng, liều mình bảo vệ anh chàng họ Vimỗi khi gặp nguy hiểm. Cô chăm sóc con của A Kha, Kiến Ninh, Tô Thuyên với tất cả sự dịu dàng, tận tâm.Vi Tiểu Bảo vốn coi phụ nữ như món đồ chơi nhưng chưa bao giờ, hắn dám có suy nghĩ coi thường Song Nhi. Chính vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Song Nhi đã trở thành một món trang sức vô giá, tô điểm cho cô gái nhỏ này trở thành mỹ nhân số 1 của Lộc Đỉnh Ký.Song Nhi vượt lên trên một Trần A Kha có dung mạo như hoa nhưng rỗng tuếch, chỉ biết mê đắm đến ngu muội tên tiểu nhân Trịnh Khắc Sảng. Cô không chỉ được Vi Tiểu Bảo trân trọng mà còn nhận được sự yêu mến của đông đảo những ai từng thưởng thức Lộc Đỉnh Ký.
Mộc Uyển Thanh (Thiên long bát bộ): Được đánh giá là một trong những nhân vật nữ có cá tính mạnh trong truyện Kim Dung, ngang bướng, cố chấp nhưng chung tình, khi yêu cũng rất mạnh mẽ, Mộc Uyển Thanh xuất hiện khá ấn tượng trong Thiên long bát bộ. Chính tính cách đặc biệt đó đã khiến cho nhân vật trở nên hấp dẫn hơn. Mộc Uyển Thanh là người có võ công không tầm thường và một quá khứ khá đặc biệt. Cô có gương mặt trái xoan xinh đẹp, nước da trắng ngần, hai mắt to tròn và sáng. Khi hành tẩu giang hồ, Mộc Uyển Thanh thường mặc y phục màu đen và quấn khăn bịt mặt, cưỡi con ngựa mang tên Hắc Mai Khôi (hoa hồng đen). Mộc Uyển Thanh có một mối tình khá ngang trái với Đoàn Dự nhưng sau này cũng được Kim Dung cho kết thúc một cách êm đẹp. Là một cô gái có tính cách bên ngoài vô cùng mạnh mẽ, có thể nói là cương cường nhất trong những nữ nhân đương thời trong Thiên Long Bát Bộ. Một Mộc Uyển Thanh xinh đẹp. Mộc Uyển Thanh có một trái tim chung thủy, và tình yêu của nàng cũng mạnh mẽ y như tính cách của nàng. Nàng là một trong số những cô gái trái tim chỉ thuộc về duy nhất 1 người của Kim Dung. Vì bị “sư phụ” nhồi nhét những định kiến rất xấu về đàn ông trong thiên hạ nên những hành động của nàng đối với. Đoàn Dự nhiều lúc rất cổ quái và nực cười khiến người đọc cảm thấy rất thú vị và yêu quý nàng.
Lam Phượng Hoàng (Tiếu ngạo giang hồ): là một “nữ bác sĩ” được xây dựng trong Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung. Cô vốn là người thuộc dân tộc vùng Miêu Cương, vùng Vân Nam lãnh thổ Trung Quốc, giáo chủ của Ngũ độc giáo. Nghe tiếng chàng trai Lệnh Hồ Xung đã trở thành tình nhân của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, Lam Phượng Hoàng dẫn một bọn nữ đệ tử, vượt dòng Hoàng Hà tìm Lệnh Hồ Xung. Gặp nhau trên Hoàng Hà, Lam Phượng Hoàng chẩn bệnh cho Hồ Xung ngay và biết chàng này mất rất nhiều máu, lại bị mất hết công lực do bị nội thương trầm trọng. Viên “nữ bác sĩ” hoang dã này đã thực hiện phép truyền máu cho Lệnh Hồ Xung: kêu bọn nữ đệ tử đến, vén váy đặt đỉa vào cho đỉa hút máu rồi lấy dụng cụ gắp từng con đỉa ấy vào tĩnh mạch Lệnh Hồ Xung, thoa một chút thuốc vàng vàng vào thân đỉa để đỉa nhả máu ra. Quả nhiên sau khi được tiếp máu, sắc mặt Lệnh Hồ Xung hồng hào hẳn lên. Tác giả Kim Dung đã mô tả hình dạng viên “nữ bác sĩ” này khá đẹp, mặc chiếc áo màu lam có in hoa hồng trắng sắc sỡ, nụ cười quyến rũ và tiếng nói thanh thót khiến ai nghe qua cũng phải rung động. Cô gọi Lệnh Hồ Xung mà những nam đệ tử khác của phái Hoa Sơn cứ ngỡ cô gọi mình; tim họ đập thình thịch trong lồng ngực! Cho đến khi nhìn thấy mắy cặp đùi trắng đẹp của bầy tiên nữ Ngũ độc giáo thì cả bọn hả họng, líu lưỡi. Tác giả cũng nhấn mạnh người Miêu Cương không như Trung Nguyên, muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, không phải e dè, che dấu. Sau khi truyền máu, Lam Phượng Hoàng mời Lệnh Hồ Xung uống rượu Ngũ tiên đại bổ. Ngũ tiên là năm loài trùng độc. Tất cả đều tự tay Lam Phượng Hoàng ngâm rượu, lại ướp bỏ vào đấy nhiều loại dược thảo nên rượu khá thơm tho. Lam Phượng Hoàng đem Ngũ tiên đại bổ mời Lệnh Hồ Xung uống trong khi cả phái Hoa Sơn đều từ chối. Và do vậy, dưới con mắt của Lam Phượng Hoàng, chỉ có chàng trai Lệnh Hồ Xung mới đáng là nam tử hán, là người bạn tốt. Tuy không nói rõ ý định, nhưng tự thâm tâm, Lam Phượng Hoàng chỉ mong Lệnh Hồ Xung gọi mình là “hảo muội tử”. Lệnh Hồ Xung đã đọc trong đôi mắt cô niềm ao ước đó. Anh cất tiếng gọi cô là “hảo muội tử” làm cô sướng mê đi bởi với người Trung Nguyên, “hảo muội tử” chỉ là em gái, nhưng đối với người Miêu Cương thì đó là tiếng gọi tình nhân! Lam Phượng Hoàng ra đi, cả phái Hoa Sơn nôn mửa thốc tháo, trừ chàng Lệnh Hồ Xung. Lênh Hồ Xung đã uống Ngũ tiên đại bổ của cô, không trúng độc, còn những người không uống thì bị trúng độc. Chẳng hiểu cô đã phóng độc trong trường hợp nào. Thật chẳng hổ danh Ngũ độc giáo! Sau này khi lên gò Ngũ Bá Cương bắt mạch cho Lệnh Hồ Xung, đại phu Bình Nhứt Chỉ khám phá ra trong người của chàng lại dư khí âm hàn do được truyền máu và uống rượu của Ngũ độc giáo. Bình Nhứt Chỉ đã mạt sát Lam Phượng Hoàng, gọi Lam Phượng Hoàng là lang băm và cho rằng trên đời này, người ta chết vì lang băm nhiều hơn là chết vì bệng tật. Quan điểm của Bình Nhứt Chỉ thật ra cũng chính là quan điểm của tác giả Kim Dung. Ông quan niệm y học, y thuật và y đạo là những cái mà không phi ai cũng làm được Những người coi thường tính mạng con người chữa bệnh theo kiểu thầy bói mù sờ voi thì chỉ có thể là những kẻ hại người, không thể khoác tấm áo cao quý của người thầy thuốc chân chính. Lời cảnh giác đó rất cần thiết cho mọi xã hội, mọi thời đại, kể cả xã hội và thời đại chúng ta đang sống. “Nữ bác sĩ” Lam Phượng Hoàng thật ra chỉ chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung theo phương pháp ngẫu hứng. Trong lòng cô mong được giáp mặt chàng trai đa tình ấy, được chàng gọi ba tiếng “hảo muội tử”, được hôn chàng một lần trước mặt Nhạc Bất Quần và bọn đệ tử phái Hoa Sơn trên con thuyền giữa Hoàng Hà đã đủ để nổi tiếng với đời. Cô vốn là cô gái Miêu Cương tò mò. Thế thôi. Cô biết Lệnh Hồ Xung đâu đến được với cô, bởi chàng là người tình của Doanh Doanh, mà Doanh Doanh lại là Thánh cô của cô. Trong cách dùng thuốc của Lam Phượng Hoàng lấp lánh một chút tình yêu đầu đời lãng mạn. Tiếp theo, rượu bổ chỉ là cái cớ. Cái chính là được gặp, được nhìn, được nói chuyện, được hôn Lệnh Hồ Xung. Ai nói thầy thuốc trên đời này không biết yêu và không biết vượt qua ngàn trùng đến hội ngộ với người mình thầm yêu trộm nhớ? Lam Phượng Hoàng là một “nữ bác sĩ” sống rất tình người, rất chân thật, xứng đáng là một thầy thuốc có được hai trái tim(?)

Nhạc Linh San (Tiếu ngạo giang hồ): (岳靈珊 – Yue Lingshan) là con gái của Nhạc Bất Quần, chưởng môn nhân phái Hoa Sơn và Ninh Trung Tắc, sau này là vợ của Lâm Bình Chi. Nhạc Linh San là nhân vật tiêu biểu cho một phụ nữ bất hạnh cùng cực, bị chính cha ruột của mình dùng làm mồi nhử trong âm mưu tranh đoạt Tịch tà kiếm pháp của nhà họ Lâm. Chồng nàng lại xem nàng như tấm kim bài hộ thân, uy hiếp ngược trở lại Nhạc Bất Quần. Nhạc Linh San là con gái cưng duy nhất của vợ chồng Nhạc Bất Quần, Ninh Trung Tắc, nàng lớn lên và được xem như công chúa của Hoa Sơn, thường được mọi người gọi là Tiểu sư muội. Từ nhỏ, nàng thân thiết với Lệnh Hồ Xung, người hết mực thương yêu và chiều chuộng nàng. Cả hai dù chưa ngỏ lời và ước hẹn nhưng đã như ngầm hiểu tình cảm trong lòng nhau, thậm chí còn cùng nhau luyện riêng một thứ kiếm pháp rất đẹp nhưng cũng dễ tan vỡ tên là Xung Linh kiếm pháp. Tình yêu của hai người từng khiến tiểu ni cô Nghi Lâm bất chợt nổi cơn ghen khi nghe Lệnh Hồ Xung thao thao bất tuyệt kể về “tiểu sư muội” khả ái của mình. Nhạc Linh San là hình mẫu của một thiên kim tiểu thư con nhà võ, được chiều chuộng, kiến thức không rộng, linh tính không sâu quá nửa, có tính kiêu ngạo tùy tiện, ưa cảm giác mới lạ và rất hiếu thắng. Khi Lệnh Hồ Xung bị thương nặng gần chết bởi Đào cốc lục tiên, Nhạc Linh San đã lấy trộm bí kíp Tử hà bí lục của Nhạc Bất Quần đem cho Lệnh Hồ Xung luyện (và dẫn đến việc Lục Đại Hữu bị giết chết một cách mờ ám). Tuy nhiên, tình cảm của Nhạc Linh San với Lệnh Hồ Xung đã chính thức thay đổi khi Lâm Bình Chi gia nhập phái Hoa Sơn. Sở dĩ Nhạc Linh San dù ban đầu yêu Lệnh Hồ Xung nhưng sau đó nhanh chóng yêu Lâm Bình Chi là do Lâm Bình Chi sau khi trải qua thảm kịch gia đình tan nát, tính cách thay đổi hẳn, trở nên hướng nội, thâm trầm, già trước tuổi, khác hẳn với mộtLệnh Hồ Xung, người được ai cũng yêu quý, lãng mạn, “thiếu đứng đắn”. Chính tính cách đó thúc đẩy sự thay đổi cách nhìn của Nhạc Linh San, từ vai trò người chinh phục, người che chở, gần gũi, quan tâm, biến thành toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ. Nguyên nhân bên ngoài là Lâm Bình Chi muốn sớm báo thù rửa hận, chỉ chăm chăm học võ luyện công, luôn luôn học hỏi nàng, chứ không nghĩ ngợi gì khác. Nhưng càng như vậy càng kích thích ý muốn chinh phục của Nhạc Linh San, đồng thời cũng càng khiến nàng kinh ngạc phát hiện cái mới ở Lâm Bình Chi. Nguyên nhân sâu xa hơn, tính cách đó của Lâm Bình Chi vừa hay phù hợp tiêu chuẩn thẩm mỹ của Nhạc Linh San. Tính cách nho nhã thanh lịch, con nhà quyền thế, nghiêm trang đạo mạo, trầm mặc ít nói nhưng trong lòng thì rất mưu mô xảo quyệt giống hệt tính cách của Nhạc Bất Quần mà nàng một lòng tôn sùng. Nàng đã có khoảng thời gian vui vẻ, hạnh phúc bên Lâm Bình Chi khi được đáp trả tình cảm.
Sau khi Lệnh Hồ Xung bị Nhạc Bất Quần gán cho toàn bộ những tội xấu xa, Nhạc Linh San đã thực sự yêu Lâm Bình Chi chân thành, sâu đậm và quyết giúp chàng tìm Tịch tà kiếm phổ, giúp chàng báo thù nhà. Và Nhạc Bất Quần đã khéo léo dàn dựng màn kịch gả con gái cho Lâm Bình Chi để hòng che mắt Lâm Bình Chi việc mình chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ. Sự bất hạnh đã đến với Nhạc Linh San khi Lâm Bình Chi đã khám phá ra âm mưu của Nhạc Bất Quần, cố công đoạt lại Tịch tà kiếm phổ, đồng thời “dẫn đao tự cung” – tự thiến mình để luyện Tịch tà kiếm pháp, thậm chí nghi ngờ tiểu sư muội tiếp cận chàng chỉ vì ăn trộm võ công cho cha nàng, khiến cho Nhạc Linh San làm vợ mà không được hưởng niềm hạnh phúc chăn gối của vợ chồng, bên ngoài phải giả mặt hạnh phúc để yên lòng cha mẹ, bên trong thì trong lòng nổi sóng, bao nỗi băn khoăn về nguyên căn việc đó, tưởng nhớ đến ngày cùng Lâm Bình Chi chung hưởng mối tình đằm thắm. Sau khiNhạc Bất Quần giành chiến thắng trong đại hội hợp nhất Ngũ Nhạc kiếm phái, Lâm Bình Chi thì thành công trong việc trả thù nhà bằng việc giết chết Dư Thương Hải, Mộc Cao Phong) đồng thời cũng bị mù, Nhạc Linh San đã được Lâm Bình Chi cho biết toàn bộ sự thật về cha mình và chồng mình – những người đàn ông không đầy đủ. Dù rất đau lòng trước sự thực này, Nhạc Linh San vẫn hết lòng yêu Lâm Bình Chi và tình nguyện đi theo. Lâm Bình Chi cũng nói rõ với Nhạc Linh San những âm mưu thâm độc của Nhạc Bất Quần nhằm chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ của nhà họ Lâm. Lâm Bình Chi cũng dự đoán được những thủ đoạn sắp tới của Nhạc Bất Quầnkhi biết Lâm Bình Chi đã đoạt lại và luyện được Tịch tà kiếm phổ. Nhạc Linh San muốn tìm nơi ẩn thân cùng Lâm Bình Chi nhưng Lâm Bình Chilại toan tính đối phó với Nhạc Bất Quần bằng những thủ đoạn tàn độc khác. Nhạc Linh San rơi vào tình cảnh đau khổ nhất trên đời này vì không thể lựa chọn bỏ mặc cha hoặc bỏ mặc chồng. Nhạc Linh San cũng không thể theo cha mà cũng không thể theo chồng sau cùng quyết định xuống tóc đi tu đoạn tuyệt tất cả những khổ đau về gia đình, tình yêu. Sau khi nghe lời thuyết phục của Lao Đức Nặc liên kết với Tả Lãnh Thiền để đấu với Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi trái tim còn lạnh hơn cả băng giá đã nhẫn tâm giết chết Nhạc Linh San để lấy lòng Tả Lãnh Thiền. Trước khi chết, Doanh Doanh biết Nhạc Linh San là người tốt nên khuyên Lệnh Hồ Xung lắng nghe tâm nguyện của nàng. Linh San trăn trối với Lệnh Hồ Xung nhờ chiếu cố và bảo vệ Lâm Bình Chi vì Lâm Bình Chi đã bị đui mù và trơ trọi. Lệnh Hồ Xung nhận lời và Nhạc Linh San yên lòng nhắm mắt.
Nghi Lâm (Tiếu ngạo giang hồ): (儀琳, Yi Lin) là một ni cô tu hành, đệ tử của Định Dật sư thái của phái Hằng Sơn (một trong Ngũ nhạc kiếm phái, đóng ở trên dãy Bắc nhạc Hằng Sơn tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)), nhưng có dáng vẻ rất đáng yêu. Cô là người tạo ra một mối tình câm lặng đặc biệt, hồn bướm mơ tiên với nhân vật chính là Lệnh Hồ Xung. Nghi Lâm là một người con gái xinh đẹp, một trái tim nhân hậu và những bi kịch của cô cũng đến từ chính vẻ đẹp này. Nàng có cha là một hòa thượng (pháp danh làBất Giới), mẹ là một ni cô (không rõ tên thật, tên thường gọi là Á bà bà). Theo lời kể của Bất Giới thì trước ông ta là một đồ tể. Ông gặp mẹ của Nghi Lâm, lúc đó bà là một ni cô, và đã ngay lập tức đem lòng yêu ni cô này. Sau nhiều lần theo đuổi, ni cô này vẫn từ chối tình yêu của ông vì cho rằng Bồ Tátsẽ trừng phạt, đày bà xuống 18 tầng địa ngục nếu phá giới. Và thế là Bất Giớiđã tình nguyện xuất gia làm hòa thượng để được cưới ni cô, với quan điểm: nếu thế thì ông sẽ cùng với bà gánh chịu hình phạt của Bồ Tát (vì ông cũng là đệ tử nhà Phật). Kết quả của tình yêu này là Nghi Lâm. Hai vợ chồng Bất Giớivừa tu hành, vừa sống hạnh phúc bên nhau. Nhưng trớ trêu thay, bà vợ ni cô của Bất Giới lại là một người có máu ghen đặc biệt. Khi nhìn thấy chồng mình đang ôm con gái nói chuyện với một người phụ nữ khác (suy luận theo lời kể của Bất Giới thì chính là Ninh Trung Tắc, vợ của Nhạc Bất Quần, sư mẫu của Lệnh Hồ Xung), bà đã ngay lập tức bỏ chồng và con gái nhỏ đi biệt tích. Bất Giới đã gửi con gái ở Hằng Sơn, lang thang khắp nơi tìm vợ nhưng vô vọng. Sau này, nhờ Lệnh Hồ Xung giúp đỡ, hai vợ chồng ông đã được đoàn tụ. Chính vì được gửi ở Hằng Sơn nên Nghi Lâm đã vô tình theo con đường của cha mẹ – trở thành một đệ tử Phật gia.
Trong một lần xuống núi Hành Sơn (dự lễ từ giã giang hồ của Lưu Chính Phong), Nghi Lâm bị Điền Bá Quang, kẻ được mệnh danh là Hái hoa dâm tặc bắt và định hãm hiếp. Khi Điền Bá Quang mang Nghi Lâm vào hang núi định giở ý đồ đồi bại thì Lệnh Hồ Xung xuất hiện, xả thân mình cứu cô. Lệnh Hồ Xung đã dùng mưu trí thắng cuộc Điền Bá Quang để hắn buông tha Nghi Lâm, đồng thời phải chịu nhận Nghi Lâm làm sư phụ. Nhưng cũng vì thế màLệnh Hồ Xung bị thương nặng và bị La Nhân Kiệt ám hại. Nghi Lâm tưởng Lệnh Hồ Xung đã chết khi bị hai ông cháu Khúc Dương, Khúc Yên Phi cướp mất xác. Sau tai nạn này, Nghi Lâm đã thầm yêu Lệnh Hồ Xung, một tình cảm mới lạ đã cho nàng những xúc cảm dịu dàng, thậm chí còn khóc vì ghen khi nghe Lệnh Hồ Xung kể về mối tình si với tiểu sư muội của mình. Nghi Lâm đã tương tư Lệnh Hồ Xung đến mức héo hon sầu muộn, nhưng lại luôn cầu chúc cho tình yêu của người sư huynh này. Nghi Lâm không chỉ yêu mà còn tỏ ra là một người thấu hiểu nỗi lòng, bản tính và ước muốn của Lệnh Hồ Xung. Đồng thời cô cũng là người luôn ủng hộ, tin tưởng mọi hành động, ứng xử của Lệnh Hồ Xung. Ngay cả khi Lệnh Hồ Xung bị Nhạc Bất Quầnvu oan, mang tiếng xấu ở khắp bạn hữu giang hồ thì cô vẫn luôn tin vào Lệnh sư huynh, và luôn cầu Bồ Tát phù hộ cho chàng.
Nghi Lâm còn dành cho Lệnh Hồ Xung một sự quan tâm thầm lặng như một người vợ luôn dõi theo từng bước chân của chồng mình. Đoạn mô tả cuộc tỷ đấu đoạt chức Minh chủ Ngũ Nhạc Phái thể hiện rất rõ mối quan tâm thầm lặng này của Nghi Lâm:
“Lúc này trên đỉnh núi Tung Sơn mấy ngàn người đều chăm chú theo dõi cuộc tỷ võ trên Phong thiền đài. Chỉ có cặp mắt của Nghi Lâm là thủy chung vẫn dán chặt vào Lệnh Hồ Xung ngoài ra nàng chẳng quan tâm đến chuyện chi hết”.

Có như vậy nên khi đó lúc Lệnh Hồ Xung đột nhiên đứng dậy thì “một cánh tay mềm mại nhỏ bé đưa ra đỡ dưới nách chàng mà chàng cũng không hay biết” và “cả cặp mắt dịu dàng ngó thẳng vào mặt chàng, chàng cũng chẳng nhìn thấy”. Sau này, khi biết về tình yêu giữa Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh, cô cũng vẫn hết lòng ủng hộ họ dù trong lòng đầy đau khổ. Chứng kiến con mình héo hon sầu muộn vì tương tư, Bất Giới hòa thượng đã không ngần ngại yêu cầu hết Điền Bá Quang đến Đào cốc lục tiên đi tìm Lệnh Hồ Xung về. Thậm chí xuất lực tự thân cùng Nghi Lâm đi tìm Lệnh Hồ Xung. Những hành động này vô tình tạo ra biết bao sóng gió cho Lệnh Hồ Xung.
Khi Lệnh Hồ Xung trở thành chưởng môn phái Hằng Sơn, Nghi Lâm càng bị lún sâu vào tương tư trong mối tình câm lặng không thể nói lên lời. Cô đã đêm đêm tâm sự với Á bà bà (người đàn bà câm điếc) quét chùa trên chùa Huyền Không về mối tình của cô, về những ước mong cho Lệnh Hồ Xung. Thực ra, người này chính là mẹ của Nghi Lâm, giả làm người câm điếc để tránh Bất Giới. Sau này, khi Nghi Lâm giết Nhạc Bất Quần – kẻ đã ám hại các vị chưởng môn của Hằng Sơn là Định Dật và Định Nhàn, đồng môn và Lệnh Hồ Xung đã tôn cô làm chưởng môn. Nhưng Nghi Lâm đã nhất quyết từ chối, nhường ngôi vị cho Nghi Thanh, còn mình thì nhất tâm kinh sách, ngày ngày cầu nguyện cho vợ chồng Lệnh Hồ Xung – Nhậm Doanh Doanh, sống trong mối tình câm lặng của mình. Mối tình của Nghi Lâm là mối tình một chiều không cầu đáp lại, chỉ mong những điều tốt đẹp sẽ đến với người mình yêu.
Đông Phương Bất Bại (Tiếu ngạo giang hồ): Đông Phương Bất Bại là một trong những nhân vật quan trọng trong tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung. Ban đầu, Đông Phương Bất Bại là phó giáo chủ của Nhật Nguyệt Thần Giáo nhưng sau này đã lập kế chiếm ngôi gáo chủ của Nhậm Ngã Hành. Tuy nhiên sau khi lên ngôi giáo chủ, Đông Phương Bất Bại lại mải mê luyện môn võ công Quỷ Hoa Bảo Điển và bỏ bê công việc của giáo phái. Không chỉ có vậy, khi luyện môn võ này, Đông Phương Bất Bại còn tự cung, trở thành người ái nam. Đông Phương Bất Bại từ đó thích trang điểm như con gái, trông như một mỹ nữ thực sự.
Tóm lại:
Khi Kim Dung giới thiệu những vẽ đẹp của những nhân vật nữ thì đồng thời ông cũng lồng vào tiểu thuyết của ông những ý tưởng cách mạng sau đây:
Tự do luyến ái: Hoàng Dung-Quách Tỉnh, Nhậm Doanh Doanh-Lệnh Hồ Sung
Đã phá tập tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó
Không xem cái trinh tiết là quan trọng
Phụ nữ đẹp phải gồm vẻ đẹp bên ngoài và tâm hồn đẹp
 
Lệnh Hồ Công Tử-Nguyễn Thúc Soạn tổng hợpCanada, 02 May 2016
In Trang Này In Trang Này