Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

VŨ SƯ LƯU HỒNG: NGƯỜI SƯ PHỤ CỦA NGHỆ THUẬT CA VŨ DÂN TỘC VÀ NGHỆ SĨ MỸ PHƯƠNG


VŨ SƯ LƯU HỒNG: NGƯỜI SƯ PHỤ CỦA NGHỆ THUẬT CA VŨ DÂN TỘC VÀ NGHỆ SĨ MỸ PHƯƠNG

(Báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 42 phát hành ngày thứ sáu 27 tháng 11 năm 2015)

alt
Ảnh vũ sư Lưu Hồng và vợ, nghệ sĩ Mỹ Phương trên bìa tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 42 phát hành ngày 27 tháng 11 năm 2015.

SỰ NGHIỆP VŨ SƯ LƯU HỒNG

Tháng 11 tuần này, sẽ tròn đúng ba năm giỗ của cố vũ sư Lưu Hồng, người thầy của bộ môn ca múa vũ nghệ thuật dân tộc Việt. Có lẽ, ông là một trong những nhân tài của nghệ thuật Việt Nam trong ngành múa. Không chỉ riêng ông, mà cả gia đình của ông cũng là những nghệ sĩ đa tài của bộ môn ca vũ này trong suốt hai thập niên dài tại miền nam Việt Nam. Ông ra đi, tuy đã ngừng sinh hoạt văn nghệ, nhưng vẫn để lại nhiều thương tiếc trong giới nghệ sĩ. Nghệ thuật Việt Nam cũng tiếc thương một người tài hoa. Vũ Sư Lưu Hồng đã là một người Thầy của nghệ thuật ca vũ, và học trò của ông đã có nhiều nghệ sĩ nổi danh sau này.

alt
Vũ Sư Lưu Hồng

Những người trẻ hơn, khán giả của thế hệ sinh trưởng từ thập niên 90 về sau, ít biết hơn về cái tên Vũ Sư Lưu Hồng hay đoàn ca vũ nhạc của ông, nhưng những ai đã sống và lớn lên với Sài Gòn trước 1975 nói riêng, và tại miền nam nước Việt nói chung, thì Lưu Hồng là người đã tô thắm sắc nét đậm đà phong phú cho nghệ thuật ca vũ nhạc dân tộc Việt. Trong một cơ hội được tiếp xúc với phu nhân của ông, nghệ sĩ Mỹ Phương, chúng tôi có hân hạnh được biết thêm nhiều về hành trình một đời vì nghệ thuật của vũ sư Lưu Hồng, cũng như hạnh phúc đã có nhau một đời của ông bà.

alt
Mỹ Phương, Lưu Hồng ở Moulin Rouge, 1964

Vũ Sư Lưu Hồng sinh trong giấy tờ là năm 1933 nhưng tuổi thật của Ông là Giáp Tuất. Ông bước vào nghệ thuật múa từ lúc còn rất nhỏ, rất trẻ. Ông và gia đình có một giòng máu nghệ thuật trong người, là những người có tên tuổi trong làng văn nghệ nước Việt. Những anh em của Vũ Sư Lưu Hồng, còn có ông anh ruột, nghệ sĩ Lưu Huỳnh, một tay trống nổi tiếng của các phòng trà ca nhạc Sài Gòn thời xa xưa đó (thân phụ ca sĩ Mỹ Lan), trong khi người em Lưu Bình là một tay trống của ban nhạc danh tiếng Shotguns. Hơn thế nữa, đoàn vũ của gia đình họ Lưu đã từng được vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam là Vua Bảo Đại triệu vào cung để trình diễn. Đoàn đã đi diễn khắp nước Việt Nam. Nhưng nói riêng về người vũ sư Lưu Hồng mà Sài Gòn đã một thời hào quang tên tuổi ông, và ngay cả quốc tế cũng đã biết đến ông rất nhiều với sự ngưỡng mộ. Lưu Hồng phải là một nhân tài của nghệ thuật Việt Nam. Giống như một nhạc sĩ để lại đời hàng trăm ca khúc bất hủ trong âm nhạc, còn Lưu Hồng để lại cho nghệ thuật dân tộc hàng trăm vũ khúc, vũ điệu với nhiều hình ảnh không gian và thời gian khác nhau. Ông là người có óc sáng tạo, biết tạo dựng sân khấu những hình ảnh mới lại, thích thú, lôi cuốn người xem. Những vũ khúc đi kèm với âm nhạc hay được dựng nên trong một kịch bản khéo léo. Thập niên 1950, mọi người thường biết đến nhiều tên đoàn vũ Lưu Hồng - Mỹ An, trong đó có nghệ sĩ tên tuổi thời đó là Bạch Yến. Thời này, âm nhạc Việt Nam còn nhiều sắc thái hình ảnh dân tộc cổ truyền. Vũ múa dân tộc đi đôi với ca nhạc được thịnh hành. Đoàn vũ Lưu Hồng - Mỹ An như tên một người nghệ sĩ siêu sao của thời buổi, đi đến đâu cũng thu hút khán giả và thành công nhiệt liệt.

alt
Vũ Bộ Mỹ An năm 1953-54 với Lưu Hồng, Lưu Huyền, Lưu Bình, Mỹ An (Đoàn Gió Nam)

Thời kỳ Việt Nam xảy ra những lần nội biến binh lửa, năm 1964, Lưu Hồng đã lập đoàn múa Moulin Rouge, tiền thân của đoàn Lưu Hồng ngày sau. Nhưng Lưu Hồng đã xây dựng sự nghiệp nghệ thuật của mình, khi ông tiếp tục có những sáng tạo mới trên sân khấu vào những năm thập niên 70. Hình ảnh của những vũ khúc sân khấu ca nhạc kịch thường được khách Sài Gòn thưởng lãm ở nhà hàng ca vũ nhạc Maxim, hay trên sân khấu truyền hình Việt Nam đài số 9 với chương trình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Những nét đặc sắc mà Lưu Hồng đạo diễn dàn dựng cho sân khấu, những sáng tạo vũ điệu màu sắc dân tộc đã là một phần chính cho sự thành công của các chương trình văn nghệ Hoàng Thi Thơ tại Maxim hay trên truyền hình hay cả những lần lưu diễn ở nước ngoài. Không có nhiều vũ sư nghệ thuật dân tộc để lại dấu ấn trong sinh hoạt của âm nhạc, nhưng Lưu Hồng là một tên tuổi mà nhiều nghệ sĩ đã phải đồng ý trân trọng ông như một ngôi sao trên sân khấu văn nghệ, thời kỳ huy hoàng nhất là những năm của thập niên 1960 đến 1975.

Gặp Gỡ Người Duyên Phận Trăm Năm

alt
Ảnh chụp vũ sư Lưu Hồng và Mỹ Phương ngày 20 tháng 1 năm 1961, cuối năm đó cả 2 thành hôn vào ngày 17 tháng 11.

Năm 1959-1960, vũ sư Lưu Hồng gặp một cô gái học sinh rất đẹp, tên Phan Mỹ Phương. Cô thiếu nữ này, lúc đó chỉ mới 15-16 tuổi, đam mê ca hát nên đi tìm một cơ hội để bước lên sân khấu nghệ thuật. Mỹ Phương gặp gỡ nhạc sĩ Ngọc Sơn, một nhạc sĩ trẻ đã có tiếng lúc đó. Từ nhạc sĩ Ngọc Sơn, cô gái Mỹ Phương được giới thiệu đến đoàn vũ nghệ thuật Lưu Hồng - Mỹ An. Thật ra, ban đầu Mỹ Phương muốn bước vào nghệ thuật bằng tiếng hát. Cô đã từng được nhạc sĩ Trường Hải huấn luyện để hát. Nhưng duyên số nghệ thuật, đã khiến Mỹ Phương nổi danh trên sân khấu múa. Vũ sư Lưu Hồng và Mỹ Phương gặp nhau, nẩy nở tình cảm thương mến cho nhau. Mỹ Phương gia nhập vào đoàn, trở thành một bông hoa mới được nhiều chú ý bởi nhan sắc và tài năng của cô. Để có thể được tự do theo đoàn đi lưu diễn khắp các tỉnh, miền của đất nước, Mỹ Phương chấp nhận yêu cầu của gia đình là kết hôn với vũ sư Lưu Hồng. Nếu không, thì với tuổi con gái còn quá trẻ, cha mẹ cô không yên tâm cho phép con gái mình đi theo đoàn múa một mình như thế. Năm 1960 đó, chỉ sau thời gian rất ngắn gặp gỡ, Lưu Hồng và Mỹ Phương đã kết hôn với nhau một năm sau đó, ngày 17 tháng 11 năm 1961..

alt
Từ trái: Nghệ sĩ Vân Hùng, cô dâu Mỹ Phương, chú rể Lưu Hồng, nghệ sĩ Bích Sơn trong tiệc cưới ngày 17 tháng 11 năm 1961
alt
Từ trái: Nghệ sĩ Vân Hùng, cô dâu Mỹ Phương, chú rể Lưu Hồng, nghệ sĩ Bích Sơn trong tiệc cưới ngày 17 tháng 11 năm 1961

Hai người bắt đầu cho một giai đoạn mới của đoàn vũ. Sau khi nghệ sĩ Mỹ Dung và nghệ sĩ Bạch Yến rời khỏi đoàn, và nghệ sĩ Mỹ An đi lấy chồng, thì đoàn vũ mang tên hai vợ chồng Lưu Hồng - Mỹ Phương. Đôi vợ chồng uyên ương này đã sống với nhau rất hạnh phúc, bền vững suốt hơn 52 năm, kể cả những lần phải trải qua những cuộc bể dâu của đất nước. Họ có với nhau 2 người con, một trai một gái. Cô con gái lớn chính là ca sĩ Ý Nhi nổi tiếng trong thập niên 90 tại hải ngoại, từng là ngôi sao sáng trên sân khấu của các video ca nhạc của trung tâm Thúy Nga. Người con rể là ca sĩ Kenny Thái. Cả đôi vợ chồng nghệ sĩ trẻ này cũng theo gương hạnh phúc bền vững gắn bó của cha mẹ, luôn có hợp không lần tan. Trong một bài viết trước đây cũng trên trang báo này, người viết chúng tôi đã viết về cô ca sĩ Ý Nhi cũng như cuộc tình trăm năm cùng với ca sĩ Kenny Thái. Còn người con trai của Lưu Hồng - Mỹ Phương là Lưu Chí Minh.

alt
Gia đình Ý Nhi và Kenny Thái

Sự Thành Công Của Vũ Sư Lưu Hồng

Sánh đôi với nhau, Lưu Hồng và Mỹ Phương cùng đoàn vũ Lưu Hồng làm sáng tỏa vườn hoa nghệ thuật dân tộc với nhiều màn ca vũ hay vũ kịch rất xuất sắc, nổi tiếng. Mỹ Phương như một cô đào chính của đoàn, luôn nổi bật những lần trình diễn. Nhưng nhiều ngôi sao sáng, phải gọi là siêu sao của sân khấu kịch nghệ điện ảnh Việt Nam đã xuất thân từ đoàn vũ Lưu Hồng - Mỹ Phương, đã là học trò của vũ sư Lưu Hồng, trong đó có các tài tử Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương. Nhiều màn vũ vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay, khi nhiều hội đoàn trẻ hay các đoàn vũ ở hải ngoại đã vẫn dùng lại những điệu múa đó trong các chương trình sinh hoạt trong cộng đồng Việt hải ngoại. Một trong những kịch bản thành công có tiếng vang của Lưu Hồng chỉ đạo, là nhạc kịch "Tấm Cám" với nghệ sĩ Kim Cương, được trình diễn trong một đại nhạc hội của người nghệ sĩ này. Nghệ sĩ Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng cũng nhiều lần tham gia các nhạc kịch tại Maxim. Khách văn nghệ Sài Gòn vẫn còn nhớ sân khấu Maxim với nhiều khuôn mặt nghệ sĩ nổi tiếng khác đã nhảy múa theo sự đạo diễn sân khấu của vũ sư Lưu Hồng, như Ngọc Phu, Tuyết Minh...

alt
Từ trái sang phải: Ngọc Phu, Tuyết Minh, Lưu Hồng, Mỹ Phương trong một màn vũ tại Club Moulin Rouge năm 1964

Nhận lời hợp tác chính thức với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, người luôn đánh giá cao nghệ thuật múa vũ điệu dân tộc và tôn trọng tài năng của Lưu Hồng, gia đình Lưu Hồng - Mỹ Phương cùng các nghệ sĩ, học trò của ông sinh hoạt thường xuyên tại nhà hàng Maxim, một nơi chốn nổi tiếng quen thuộc cho dân Sài Gòn có tiền và người yêu văn nghệ. Sau này gọi là đoàn vũ Maxim. Nhà hàng Maxim này của thương gia Huỳnh Đạo Nghĩa, người được biết là chủ nhân của công ty kem đánh răng Hynos Sài Gòn nổi tiếng ngày xưa. Thời đầu thập niên 70, có nhiều trường phái về múa vũ. Nổi tiếng tại Sài Gòn có các trường dạy của vũ sư Ánh Tuyết (thân mẫu của ca sĩ Nguyễn Hưng ngày nay), hay vũ sư Nguyễn Thống, hay sư Thanh Xuân.. mỗi vũ sư như một trường phái riêng, nét hay riêng, thể điệu riêng, sắc thái riêng. Nhưng với vũ sư Lưu Hồng là vũ dân tộc trong những kịch bản của ca nhạc thời trang. Nổi tiếng như là một dấu ấn của tên tuổi Lưu Hồng, đoàn nghệ thuật của ông còn được biết với cái tên Vũ Bộ Lưu Bình Hồng. Đoàn vũ Maxim có 12 nữ vũ công chính, tất cả đều đẹp và múa tuyệt vời. Họ đã được mời lên đài truyền hình góp mặt thường xuyên các chương trình ca nhạc Hoàng Thi Thơ, đi lưu diễn khắp các tỉnh thành nhất là đi trình diễn cho các tiền đồng mặt trận cho lính, khi thời đó chiến tranh đang rực đỏ lửa đạn nơi nơi. Đoàn vũ Maxim có một lần gây xôn xao tin tức trên báo chí và giới văn nghệ với cái chết của một nữ vũ công có tiếng là cô Kim Lệ Thi (em gái của nghệ sĩ Kim Xuân). Sau cái chết bất ngờ của Kim Lệ Thi, đoàn vũ chỉ còn 11 người, vẫn tiếp tục sinh hoạt. Nhưng nhiều biến cố xảy ra trong đoàn hay lúc trên sân khấu hay khi ở hậu trường, khiến mọi người trong đoàn nghĩ rằng hồn ma của cô đào này về phá. Mọi người phải lập bàn thờ, vía tránh những tai nạn nghề nghiệp đã xảy. Trong số các vũ công của đoàn Maxim về sau, có nhiều nghệ sĩ học trò của vũ sư Lưu Hồng nay đã định cư tại Hoa Kỳ, như nghệ sĩ Cát Phương, Kỷ Phương (em gái ca sĩ Phương Hồng Quế).. Bên cạnh các sân khấu tại Sài Gòn, người thầy của bộ môn nghệ thuật ca múa vũ dân tộc này cũng được mời tham gia chỉ đạo nghệ thuật trong nhiều cuốn phim như phim "Người Yêu Cuối Cùng" của đạo diễn Nguyễn Long (quá cố) nhưng chưa kịp trình chiếu thì Sài Gòn đổi chủ. Lưu Hồng còn được sự quý trọng từ nhà lãnh đạo quốc gia, khi có lần ông đã được mời trình diễn tại dinh độc lập với lời mời của tổng thống Ngô Đình Diệm và ông bà cố vấn Ngô Đình Nhu, vào năm 1962.

LƯU DIỄN KHẮP MIỀN ĐẤT NƯỚC

alt
Mỹ Phương hát tiếng Hoa, vũ Hawaii tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn 1973-1974
alt
Mỹ Phương trong màn vũ Kinh Chiều 1972

Hai thập niên từ 1960 cho đến ngày biến cố 30 tháng 04 năm 1975, đoàn vũ Lưu Hồng có mặt khắp nơi trên đất nước miền nam. Thời đó đất nước đang chinh chiến, đoàn vũ của Lưu Hồng và Mỹ Phương tham gia văn nghệ để ủng hộ khích lệ tinh thần những binh sĩ chiến đấu của miền nam. Cùng với các đơn vị văn nghệ của quân đội như Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, Đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương,.. những nghệ sĩ của đoàn vũ Lưu Hồng cũng được mời đến trình diễn cho lính xem. Có khi trình diễn ngay lúc chiến trường đang đạn pháo tơi bời. Có những kỹ niệm đáng nhớ vẫn còn đọng đầy trong tâm tưởng của nghệ sĩ Mỹ Phương hôm nay, khi nhắc lại thời gian đó. Cô nhớ những lần nghệ sĩ đi diễn đến tiền đồn mặt trận bằng những chuyến bay chở lính, chở súng đạn... khi trở về có lúc phải ngồi cùng chuyến bay chở những quan tài thi thể những chiến sĩ vừa nằm xuống ở mặt trận trở về Sài Gòn... vui có, sợ hãi có, ngậm ngùi có. Đời nghệ sĩ của những nghệ sĩ miền nam thời chiến tranh, cũng đã phải có những lần gắn bó với chiến trường như một người lính chiến. Họ trình diễn trong hầm trú đạn, hay trình diễn giữa đồi núi gió lộng thênh thang mùi tanh của máu người hay mùi khói của súng đạn. Nhưng nhìn những người lính, những nghệ sĩ lúc đó thấy mình vui. Mỹ Phương và bạn bè nghệ sĩ trong đoàn vũ Lưu Hồng thấy lòng nhen nhúm những niềm vui khi dành cho lính những giờ phút văn nghệ để quên vài phút những tiếng súng đạn. Nhưng nghệ sĩ Mỹ Phương vẫn còn nhớ luôn sự tri ân, quý mến của những chiến sĩ với người nghệ sĩ. Họ đón tiếp, tiếp đãi chân tình với những nghệ sĩ. Như một lần ăn cháo gà ngay căn cứ ở chiến trường, do tướng Lý Tòng Bá lúc đó thiết đãi những nghệ sĩ. Cho nên, dù đi hát các tỉnh thành ở những chuyến lưu diễn thuần túy văn nghệ cho khán giả, hay đi hát cho lính, hành trình những chuyến đi của đoàn vũ Lưu Hồng luôn có nhiều kỹ niệm mà chính Mỹ Phương đến ngày hôm nay vẫn giữ gìn trong tim óc một cách trân quý.

Những Lần Mang Chuông Vang Tiếng Xứ Người

alt
Từ trái sang phải: Thúy Nga (thứ 2), Kim Xuân (người thứ 4), Hoàng Thi Thơ (thứ 5), Thu Thủy (thứ 6), Lưu Hồng (thứ 7), Kim Thu (thứ 8), Vân Sơn AVT (thứ 9), Cao Thái (thứ 10) ở Pháp năm 1968

Vũ Sư Lưu Hồng thì ngay từ đầu thập niên 60, ông đã được những lần vinh dự mang chuông đi đánh tiếng xứ người. Ông đã từng được bà Ngô Đình Như mời tham gia phái đoàn văn nghệ đi trình diễn ở nước ngoài. Có lần, đoàn văn nghệ Việt Nam do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đứng đầu, đã được gửi đi trình diễn ở Hong Kong, ở nước Nhật. Trong đó có gia đình Lưu Hồng - Mỹ Phương, và tài tử Thẩm Thúy Hằng. Đến năm 1967 thì vũ sư Lưu Hồng lại tháp tùng một chuyến lưu diễn với đoàn văn nghệ Việt Nam cũng do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ dẫn đoàn, tại Pháp. Chuyến đi này thì riêng Mỹ Phương không tham gia được, khi cô đang mang thai người con trai. Năm 1970, thì đoàn văn nghệ Việt Nam lại trình diễn ở thành phố Osaka, nước Nhật, nhưng có Mỹ Phương tham gia. Một lần khác, Lưu Hồng và Mỹ Phương cùng với các nghệ sĩ Lưu Bình, Mỹ Dung, Vân Sơn, Tuyết Minh, được gửi đi Singapore với tư cách nhóm nghệ sĩ trong phái đoàn đại diện cho Air Việt Nam lúc đó. Đó là những vinh dự hiếm quý của người nghệ sĩ khi được quốc gia tuyển chọn để đại diện văn hóa dân tộc mình đi sang nước người trình diễn. Lưu Hồng và Mỹ Phương luôn có nhiều những niềm vinh dự hiếm quý đó. Không phải chỉ là một cơ hội đi du lịch nước ngoài cho biết, nhưng niềm vui nhất là được mang màu áo dân tộc phô trương một sắc thái đẹp cho văn hóa nước nhà với người ngoại quốc.

Chuyến Lưu Diễn Cuối Cùng Ở Nhật Bản - Lần Chia Tay Tạm Biệt

alt
Từ trái: Thúy Nga, Mộng Ngọc, Mỹ Hoa, Mỹ Phượng, Mỹ Phương, Cát Phương, Minh Thư, Mỹ Hà, ông bà Diệp Bảo Tân, Trần Văn Trạch; hàng dưới: Lưu Hồng, Hoàng Thi Thơ, Minh Phương, Văn Cường; trước khi đi Nhật tháng 3/1975, chụp trước vũ trường Maxim’s

Tuy vẫn thường gắn bó bên nhau những chuyến đi trình diễn khắp nước hay lưu diễn quê người, nhưng đã có lần vợ chồng nghệ sĩ Lưu Hồng và Mỹ Phương tưởng mất nhau, khi biến cố 30 tháng 04 năm 1975 xảy ra mà Mỹ Phương đang ở Đông Kinh Nhật Bản, còn Lưu Hồng đang còn ở Sài Gòn. Đó là câu chuyện của một chuyến đi văn nghệ lưu diễn của nhóm nghệ sĩ múa do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ dẫn đầu , đến nước Nhật theo lời mời của một công ty nghệ thuật tại đây. Chuyến đi có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thời đó như ca sĩ Thúy Nga (phu nhân nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ), Vân Cường, Mỹ Lan, Mỹ Phượng, Mỹ Hà, Minh Phương, Mộng Ngọc, Minh Thư (vợ của Minh Phương), Mỹ Hoa, Cát Phương...

alt
Từ trái sang phải: Cát Phương, Mộng Ngọc, Mỹ Phương, Thúy Nga, Minh Thu chuyến đi trình diễn tại Nhật tháng 3 năm 1975 với hợp đồng 6 tháng

Chương trình dự trù kéo dài 6 tháng lưu diễn khắp nơi nước Nhật theo hợp đồng với công ty mời tại bản xứ. Bắt đầu từ tháng 03 năm 1975. Nhưng bất ngời, cuộc chiến thay đổi tại miền nam, ngày 30 tháng 04 xảy đến. Những nghệ sĩ trong chuyến đi này đành kẹt lại tại nước Nhật, như những người không có giấy tờ hợp pháp, vì quốc gia vừa mất nên giá trị giấy thông hành của miền nam VNCH cũng không còn tại đây. Sứ quán Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật bị đóng cửa vì sự thay đổi chính phủ lúc đó. Bang giao Nhật - Việt chưa chính thức tái lập nên chưa có sứ quán mới đại diện. Những người Việt Nam, nhất là đoàn nghệ sĩ này, tự nhiên trở thành những di dân bất hợp pháp, tạm thời được cư trú tại Nhật nhưng cứ sáu tháng phải xin lại gia hạn visa cư trú. Vũ Sư Lưu Hồng không tháp tùng đoàn vào tháng 3 năm đó, dự trù sẽ bay sang Nhật sau đó vài tháng vì chương trình lưu diễn tưởng còn kéo dài đến sáu tháng. Cho nên, bất ngờ mà Lưu Hồng và Mỹ Phương bị chia cách nhau. Lưu Hồng còn lại Sài Gòn với 2 người con nhỏ là Ý Nhi (tên thật lúc đó là Lưu Huỳnh Châu) và Lưu Chí Minh. Gia đình chồng, vợ vì thời cuộc đất nước bất ngờ đổi thay, mà nghìn trùng xa cách nhau. Ban đầu, tưởng đã vĩnh viễn mất nhau, vì không ai biết thời cuộc sẽ thế nào sắp tới.

Gia Đình Đoàn Viên Tại Nước Nhật

Tại Nhật, vài nghệ sĩ tìm đường thoát qua nước khác tìm quy chế tỵ nạn để được định cư tại Mỹ hay nước khác ở Âu Châu. Có người may mắn đoàn tụ với người thân chồng vợ đã ra khỏi Việt Nam tỵ nạn tại các quốc gia thứ ba. Còn lại nhiều nghệ sĩ, cũng như với gia đình của Mỹ Phương, ở lại Nhật mưu sống bằng nhiều cách rất kham khổ. Họ làm việc cho nhà hàng, nấu bếp, những công việc lao động mà tư cách người nghệ sĩ chưa bao giờ có kinh nghiệm trong cuộc đời trước đó. Ở phương xa nước Nhật, cô Mỹ Phương đã làm lụng cực khổ chắt chiu tiền bạc gửi về cho chồng, con. Ở quê nhà, vũ sư Lưu Hồng cũng mưu tìm đường thoát khỏi Việt Nam. Cho dù Mỹ Phương đã nhiều lần khuyên chồng đừng nên vượt biển, khi cô thấy nhiều thảm cảnh xảy ra trên biển đông làm cô vô cùng lo sợ nghĩ đến chồng, con sẽ liều lĩnh tìm đường thoát ra biển đông. Cô gửi tiền, gửi quà về cho chồng, con.. nhưng lén lúc dấu những món tiền nhỏ trong các món quà. Bằng đủ cách khéo léo nhưng chỉ cầu may để đừng bị hải quan trong nước Việt Nam phát giác. Cầu may được ứng, nên mọi lần tiền dấu gửi về đều đến tay chồng. Vũ sư Lưu Hồng dành dụm tiền, mua chuộc một cơ hội lên thuyền nhỏ vượt biển cùng hai con. Chuyến vượt biển an lành, cha con Lưu Hồng đến tại tỵ nạn Pulau Bidong vào năm 1979. Ra đi hai bàn tay trắng, nhưng là một người có tiếng tại Việt Nam trước đó, có nhiều quen biết, nên ông được nhiều người giúp đỡ. Tại đây, ông xin tiếp xúc với phái đoàn chính phủ Nhật để xin được đoàn tụ với vợ Mỹ Phương. Họ tái ngộ tại nước Nhật chỉ sau 2 tháng tạm cư ở đảo Bidong. Sang đến Nhật, vất vả làm ăn nhưng vui mừng hạnh phúc gia đình đoàn tụ. Sau một thời gian, với con gái Ý Nhi và con trai Chí Minh đều lớn lên đi học tại Nhật. Cộng đồng người Việt tại Nhật những năm 1980, 1981 bắt đầu thành hình và đông hơn. Mang giòng máu nghệ thuật, nên Vũ Sư Lưu Hồng không chần chừ tạo cơ hội lập một đoàn múa. Trong nhóm ngoài vợ chồng vũ sư Lưu Hồng - Mỹ Phương, còn có vũ sư Văn Cường là em trai của Mỹ Phương, có Kiền chơi trống cũng là em trai Mỹ Phương, có cô Mi cũng là em em gái Mỹ Phương chuyên múa, có cậu Nhi người em trai út Mỹ Phương, và Ỳ Nhi tức Lưu Huỳnh Châu là ca sĩ.

alt
Lưu Huỳnh Châu (tức ca sĩ Ý Nhi sau này) trở thành ca sĩ trẻ tại Nhật và khi sang Mỹ cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga và một số hãng băng nhạc khác

alt
Ý Nhi trong chuyến đi Pháp thu hình Paris Ny Night đầu tiên tháng 10 năm 1991. Từ trái: Don Hồ, 1 thân hữu, Phương Khanh, Ý Nhi, Trần Quốc Bảo trước nhà thờ Đức Bà Notre Dame

Gia đình tham gia hội nhập với cộng đồng người Việt tại Nhật. Vũ sư Lưu Hồng mang kiến thức và nghệ thuật của mình giúp cộng đồng với những sinh hoạt văn nghệ. Gia đình lập một đoàn vũ nhỏ, giới hạn cho cộng đồng Việt, nhưng lại gây được tiếng vang nên các cộng đồng người bản xứ cũng hoan nghênh mời trình diễn.

Định Cư Cuối Đời Tại Nước Mỹ

Gia đình Lưu Hồng - Mỹ Phương sang Mỹ định cư từ năm 1988. Bắt đầu cơ hội cho các con của hai người nhiều hơn là cho chính họ. Tại nước Mỹ, con gái Ý Nhi đã có cơ hội trở thành một ngôi sao trẻ trong làng nhạc Việt suốt nhiều năm cho đến khi cô ngưng hát vào giữa thập niên 2000. Nhưng chính vũ sư Lưu Hồng cũng không ngừng truyền đạt kiến thức của mình cho những người yêu nghệ thuật, yêu múa vũ. Vũ sư Lưu Hồng tiếp tục vai trò chỉ đạo, cố vấn cho nhiều chương trình âm nhạc múa vũ nghệ thuật dân tộc. Ông sinh hoạt với nhiều hội đoàn văn hóa, trong đó ông đã hợp tác với đoàn văn nghệ dân tộc Lạc Hồng, trong vai trò cố vấn. Ngày nay ai cũng biết những chương trình rất giá trị dân tộc tính được trình diễn bởi đoàn văn nghệ ca múa vũ Lạc Hồng, của giáo sư Nguyễn thị Mai và giáo sư Nguyễn Châu. Vũ sư cũng đã giúp cố vấn cho đoàn vũ của chùa Lâm Tỳ Ni và Long Hoa tại Long Beach. Ông để lại nhiều công trình nghệ thuật mà các đoàn vũ trên đến nay vẫn còn sử dụng nhiều vũ khúc, vũ điệu do ông sáng tạo. Nhiều lần, Lưu Hồng cũng đã cộng tác với vai trò cố vấn nghệ thuật cho các chương trình âm nhạc của trung tâm Thúy Nga và nhiều trung tâm văn nghệ khác.

alt
Đoàn vũ Lạc Hồng tại Hoa Kỳ, vũ sư Lưu Hồng đứng giữa, bên phải là cháu ngoại của ông (con gái Ý Nhi)

Riêng Mỹ Phương thì từ khi sang Mỹ, cô chỉ lo việc gia đình nội trợ nhiều hơn, không tiếp tục vai trò người nghệ sĩ nữa. Hiện người nghệ sĩ này đang sống tại quận Cam, miền nam California. Đến cuối tháng 11 năm 2012, vũ sư Lưu Hồng qua đời vì bệnh, ông thọ 80 tuổi. Ngày lễ an táng của ông, đông đảo nghệ sĩ xưa và này đã đến viếng thăm và tiễn đưa. Lưu Hồng đã là cái tên của một vì sao rất sáng trên sân khấu nghệ thuật Việt Nam, từ những ngày trong nước cho đến hải ngoại. Ông đã là một bậc sư phụ của nghệ thuật múa dân tộc Việt suốt bốn thập niên, từ nền đệ nhất cộng hòa miền nam cho đến cộng đồng người Việt tại hải ngoại (Mỹ, Nhật). Tên tuổi đó, Lưu Hồng, thật xứng đáng để thế giới nghệ sĩ người Việt trong thế hệ ông vẫn luôn ghi nhớ. Hồ Văn Xuân Nhi

VŨ SƯ LƯU HỒNG - 3 NĂM HỒI TƯỞNG MỘT VẦNG TRĂNG ĐÃ KHUẤT

Trần Quốc Bảo

Vũ Sư Lưu Hồng sinh ngày 15 tháng 3 năm 1933. Ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống nghề vũ, múa dân tộc. Thời niên thiếu, ông và các anh chị em đã cùng nhau học vũ và thành lập một ban múa vũ dân tộc để trình diễn ở nhiều nơi trong nước Việt Nam. Ban vũ của gia đình ông đã du hành trình diễn khắp nơi các nhà hát từ Sài Gòn ra đến Hà Nội cùng với những ca nhạc sĩ và các diễn viên nổi tiếng trong nước.

alt
Mỹ Phương – Lưu Hồng đi Nhật năm 1962 trong Đoàn Văn Nghệ Việt Nam

Năm 1944, Hoàng Đế Bảo Đại, vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn nước Việt Nam, đã mời ban vũ gia đình Lưu Hồng đến trình diễn trong Hoàng Cung. Sau năm 1955, vũ sư Lưu Hồng và ban vũ của ông đã lưu diễn nhiều nơi khắp miền nam Việt Nam. Cuối năm 1959, đầu 1960, Ông gặp được nghệ sĩ Mỹ Phương, hai trái tim cùng rung lên những nhịp đập tình cảm chân thành tha thiết, và đến ngày 17 tháng 11 năm 1961 cả hai đã kết hôn. Năm 1964, vũ sư Lưu Hồng và vũ sư Lưu Bình thành lập một đoàn vũ Moulin Rouge sau này nổi tiếng và đổi tên thành đoàn vũ Lưu Hồng. Đoàn vũ này đã được đại diện nước Việt Nam để tham dự các cuộc liên hoan múa Châu Á tổ chức tại Tân Gia Ba cùng với nhiều đoàn múa nổi tiếng trong vùng.

Từ trái qua: Vân Cường, Minh Ngọc, một nam vũ công, Hoàng Thi Thơ, Minh Phương, Phát Giàu, Hoàng Long; hàng trên: Mỹ Thanh, Mộng Ngọc, Mỹ Phương, Lưu Hồng, Mỹ Hồng, Kim Toàn quay phim một màn múa trong Sở Thú 1970-71

Năm 1967, vũ sư Lưu Hồng thành lập đoàn vũ Maxim, rất nổi tiếng thành công được đón nhận khắp nơi trong nước và Sài Gòn. Thời gian đó, vũ sư Lưu Hồng đã được giao trọng trách lãnh đạo các phái đoàn nghệ thuật múa đại diện nước Việt Nam để tham dự các liên hoan ca vũ quốc tế tổ chức tại Hong Kong, Nhật Bản, Pháp Quốc, Moronco, Châu Phi. Năm 1975, Vũ Sư Lưu Hồng rời Việt Nam định cư tại Nhật Bản, sau đó thì sang Mỹ định cư. Từ đó, ông đã đóng góp vào nhiều chương trình ca vũ nhạc của người Việt tại hải ngoại, huấn luyện các thế hệ vũ công trẻ, và là một chuyên viên cố vấn về múa, vũ cho nhiều chương trình ca vũ nhạc thu hình. Vũ sư Lưu Hồng cũng đã dành nhiều thời gian của mình để đóng góp vào công tác xây dựng đoàn múa gia đình phật tử Lâm Tỳ Ni và Long Hoa. Thời gian về sau gần đây, Vũ Sư Lưu Hồng cho tổ chức lại đoàn vũ Maxim phối hợp cùng với trung tâm văn hóa nghệ thuật Lạc Hồng để huấn luyện phát huy nghệ thuật múa dân tộc qua âm nhạc Việt cho các thế hệ trẻ để phát huy văn hóa và nghệ thuật người Việt tại nước Mỹ. Vũ sư Lưu Hồng và nghệ sĩ Mỹ Phương có tất cả 2 người con. Cô con gái lớn tên Lưu Huỳnh Châu sinh năm 1966 (về sau cô đi hát tại Hoa Kỳ có nghệ danh là Ý Nhi và đã lập gia đình với nam ca sĩ Kenny Thái) và 1 cậu con trai tên Lưu Chí Minh, sinh năm 1969. Vài năm cuối cùng, cơn bệnh viêm phổi (COPD và Dementia) cùng với chứng bịnh Alzheimer đã khiến sức khỏe Ông càng lúc càng suy giảm và tháng 7 năm 2012, Ông đã được đưa vào một nursing home gần nhà để có đầy đủ phương tiện chăm lo Ông hơn. Các học trò cũ của vũ đoàn Maxim vẫn thường xuyên gọi Cô hoặc ghé thăm thầy.

Trước 2 tuần Ông mất, một nhóm nghệ sĩ với 2 chị em Xuân Trang - Cát Phương cùng với Thùy Linh, Ánh Hoa, Trần Quốc Bảo đã từ xa về ghé thăm người thầy cũ. Hình ảnh cô Mỹ Phương, luôn túc trực chăm sóc Ông những ngày cuối đời đã rất cảm động, như những lời thơ của một thi sĩ đã viết: Anh cầu mong chẳng phải bây giờ Mà khi tóc đã hoa râm Khi mái đầu đã bạc Khi đã đi qua những giông bão biển bờ vẫn còn thấy tựa trên vai mình một tình yêu không thất lạc.. Vũ sư Lưu Hồng giã từ cuộc đời vào lúc 9g20 sáng thứ tư ngày 28 tháng 11 năm 2012. Hưởng thọ 80 tuổi

alt
Ảnh chụp nhóm thân hữu Maxim vào thăm thầy cũ Lưu Hồng tại nursing home ngày 12 tháng 11 năm 2012, chỉ 16 ngày sau, Ông từ trần. Từ trái sang phải: Ánh Hoa, Thùy Linh, Lưu Hồng, Cát Phương, Mỹ Phương, Xuân Trang

PHÚT NÓI THẬT CỦA NGHỆ SĨ MỸ PHƯƠNG (MAXIM)

Trầm Từ Đông thực hiện

alt
Nghệ sĩ Mỹ Phương chụp tại Maxim đầu năm 1975

- Tên thật: Phan Mỹ Phương - Sinh nhật: Ngày 30 tháng 6 - Nơi sinh: Hải Phòng - Lên sân khấu lần đầu tiên lúc bé? Hồi nhỏ, lúc 11, 12 tuổi lên múa, lên hát ở trường Tàu là trường Ân Đức (Nguyễn Tri Phương) - Lên sân khấu chuyên nghiệp lúc nào? Năm 1959, lúc 15 tuổi khi vừa quen với vũ sư Lưu Hồng thì buổi diễn đầu tiên ở Bình Tuy là những màn vũ quạt với bộ ba Lưu Bình, Lưu Hồng và Mỹ Phương - Mối tình đầu khi nào? Từ lúc gặp vũ sư Lưu Hồng năm 1959, cho đến nay cũng chỉ biết yêu một người. - Khi rảnh rỗi thích làm gì? Làm việc nhà, lấy tivi là bạn thân, hoặc rảnh rỗi xuống tầng dưới sinh hoạt, chuyện trò với mấy hàng xóm.. - Nhạc sĩ, ca sĩ nào cô thích hoặc thân nhất? Không thân với ai và cũng không ghét ai.. Bạn bè xã giao bình thường.. - Trong số những ca nhạc sĩ đã mất, cô thân và quý nhất là ai? Ai tài giỏi đều thương tiếc, như Anh Bằng, Nhật Trường, Duy Khánh.. - Khi nhìn lại đời nghệ sĩ, cô sẽ cám ơn những ai đã giúp mình? Cám ơn nhất là chồng, vũ sư Lưu Hồng. - Ngoài tài múa, còn khả năng nào? Có hát, nhưng thường là hát nhạc Hoa - Mầu sắc thích nhất? Màu tím, màu đỏ - Y phục màu thích nhất? thường mặc màu đen, màu nâu, màu đậm - Quần áo thích hiệu gì? Không cần hiệu, chỉ cần màu sắc đẹp, hạp ý thì mình mua, nhưng phải rẻ chứ mắc quá là không mua - Mùa nào thích nhất? Tại sao? Thích nhất mùa thu, vì quang cảnh buồn bã âm u như tâm trạng của mình… Mùa Thu lá bay anh đã đi rồi.. Từ lúc chồng mất, nhiều khi buồn quá chỉ muốn đi theo chồng. - Con vật thích nhất?Thích nhất là chó, vì chó là một con vật trung thành, một phần khác, ông Lưu Hồng tuổi Chó nên tôi rất thích con Chó - Con vật sợ nhất?Rắn - Con số hạp nhất? Thích nhất là số 13 (tại tôi đi sang Nhật trình diễn ngày 13 tháng 3/75) - Con số kỵ nhất? Ghét nhất số 4, người Tàu gọi số này là “xẩy” nghĩa là chết.. nên không thích. - Trái cây thích nhất? Sầu riêng, xoài, mít, trái na.. - Món ăn thích nhất? Phở (thích ăn Phở 79) - Nước hoa thích nhất hiệu gì? Hiệu gì cũng được - Nhà hàng thích tới nhất? Không nhất định kén chọn - Café nào thích ghé nhất?Ghé mua café Lili (vì Ý Nhi rất thích café ở quán Lili) - Cô thường làm tóc ở tiệm nào? Ít làm tóc lắm.. Nếu phải làm thì ai làm cũng được - Thích du lịch ở đâu? Du lịch ở đâu cũng thích, nhưng thích nhất là Việt Nam và Nhật (vì từng sống ở đó) - Yêu quý điều gì trên đời nhất?Gia đình mà được hạnh phúc là yêu quý nhất - Ra đường sợ gì nhất? Ra đường sợ xe cộ ồn ào đông đúc - Trong nhà sợ gì nhất? Trong nhà sợ cô đơn, trống vắng - Thượng Đế của cô? Phật Bà Quan Âm (ông Lưu Hồng thì thờ Chúa, đạo ai nấy giữ), Ý Nhi thì đạo nào cũng tin.. - Những bài hát cô hay được yêu cầu trình diễn nhiều nhất? Hát tứ tung, không thuộc nhiều nhưng mà thích chọn nhạc buồn để hát. Có một bài khi ông Lưu Hồng còn sống có hát và khi cô nghe cô rất thích nhưng không nhớ bài gì - Mẫu người yêu lý tưởng? Chung thủy, tài ba, dáng người coi được, phải biết thương vợ - Muốn là bạn thân của cô, cần phải có điều gì? Thành thật với nhau, giúp đỡ nhau, biết người biết ta. - Nếu bà Tiên cho 2 điều ước, cô sẽ ước mơ điều gì? Cho nghệ sĩ Lưu Hồng sống lại hoặc cho hiện ra một người nào dáng người như chú thì xúc động lắm.. - Tánh xấu? Nóng tánh, khi nóng là cái gì nói cũng om xòm, một chút thôi là hết - Tánh tốt? Biết thương người - Châm ngôn sống của cô? Dĩ hòa vi quý - Khi một người thân hiểu lầm, cô phải làm gì? Khi họ hiểu lầm mình, hãy để thời gian trả lời - Kỳ diễn nào cô trình diễn vui nhất trong đời? Thời gian đi diễn ở Maxim trước 1975 là hạnh phúc với nghề nghiệp nhất. - Kỷ niệm nào vui hay buồn nhất năm 2015? Từ khi chồng mất ngày nào cũng như ngày đó, không vui gì cả. - Dự đinh năm 2016? Không có dự định, không biết sức khỏe thế nào, chỉ mong khỏe mạnh o ham muốn gì hết. - Nếu kiếp sau làm người, cô mong là nhân vật nào? Được làm một người có khả năng giúp đỡ nhiều người khác - Liên lạc: Gọi cho Ý Nhi (714)981-6555 hay Trần Quốc Bảo (714)981-9255



  MDT -ddDK



BAY ĐI CÁNH CHIM BIỂN - BẰNG KIỀU - VCH

Có nhiều người vào một thời điểm nào đó, và ở một hoàn cảnh nào đó đã ao ước có đôi cánh của loài chim biển, thoát ra khỏi cảnh tù túng để sống với trời cao biển rộng. Tôi cũng đã có mơ ước như vậy. Chỉ đáng buồn là mơ ước này lại nhen nhúm khi tôi đang sống trên mảnh đất quê hương của mình khi hòa bình đã trở lại.
Thế rồi ước mơ đã may mắn trở thành sự thật. Tôi đã vượt qua nửa vòng trái đất, sang bên kia bờ đại dương sống tại thành phố San Francisco, một thành phố thơ mộng xây cất trên 32 ngọn đồi. Nơi đây quanh năm tôi có thể ngắm bầy hải âu bay lượn qua cây cầu Golden Gate, giỡn với sóng biển lúc nào cũng rì rào.
Tuy không còn mong ước có đôi cánh dài để bay đi đâu nữa, nhưng ước mơ một đời sống tự do như loài chim biển lúc nào cũng tiềm ẩn trong tôi. Nghe sóng vỗ và ngắm bầy hải âu bay lượn trong cảnh hoàng hôn vẫn còn là cái thú mỗi buổi chiều trên đường đi làm về. Và khi dạo bờ biển với cái máy ảnh trên tay thì hải âu vẫn luôn là đề tài mà tôi yêu thích.
Mời các bạn ngắm một số hình ảnh hải âu bay lượn với sóng biển và nghe Bằng Kiều hát Bay Đi Cánh Chim Biển của Đức Huy, một nhạc sĩ yêu thiên nhiên, đã từng sống và có khá nhiều kỷ niệm với San Francisco. VCH

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

XẾ BÓNG CUỘC ĐỜI Thôi mình đi em nhé..." !

"XẾ BÓNG CUỘC ĐỜI 
  Thôi mình đi em nhé..." !

Hồi mới qua Mỹ, lần đầu thấy tấm bảng ghi là Estate Sale cắm ở góc đường, tôi đoán là một hình thức bán bớt đồ cũ trong nhà. Như bày bán ở Garage thì gọi là Garage Sale; bày bán ở sân sau nhà thì gọi là Yard Sale; dọn nhà thì người ta bán bớt những thứ không tiện đem theo với bảng cắm là Moving Sale, còn Estate Sale… chắc cũng tương tự. Tự dặn là về phải tra tự điển, nhưng rồi tôi quên luôn! Nhớ lại những ngày mới đến Mỹ, ra đường thấy chữ gì không hiểu thì cứ nhủ lòng về tra tự điển, nhưng bao giờ cũng quên nhiều hơn là nhớ.

Cho tới một hôm tình cờ nghe cô bạn Mỹ làm chung kể chuyện, tôi mới hiểu chính xác Estate Sale là bán sạch gia tài. Cổ kể là vợ chồng cổ mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền, còn rất mới, nhưng với giá chỉ một phần mười giá trị thực của bộ bàn ăn đó. Theo cô ấy cho biết, bộ bàn ăn trị giá năm ngàn đồng, dù nó chỉ còn mới được tám mươi phần trăm, nên có phải mua với giá một, hai ngàn đồng, cô ấy cũng đồng ý mua. Vậy mà vợ chồng cô ấy mua được với giá chỉ năm trăm đồng, từ một căn nhà treo bảng Estate Sale. Cô ấy phải ghi xuống giấy ngày, giờ và địa chỉ của căn nhà đó. Rồi thông báo cho chồng cô ta biết trước mấy ngày để đến đúng hôm đó, hai vợ chồng phải dậy sớm mà đi xếp hàng. Khi lọt được vào ngôi nhà Estate Sale, cô nhanh chóng quyết định, nhưng phải kể là may mắn nên cô đã mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền với giá quá rẻ.

Trò chuyện thêm với cô bạn, tôi mới hiểu ra Estate Sale là bán toàn bộ đồ đạc trong nhà: từ ly tách muỗng chén, đến quần áo, giường ngủ, tủ trà, bệ thờ; tới cả tranh, tượng, đồ kỷ niệm… Nhưng giá bán của Estate Sale không rẻ như Garage Sale, Yard Sale, hay Moving Sale vì không phải là đồ thừa trong nhà. Lý do bán hết các thứ trong nhà vì chủ nhà phải vô viện dưỡng lão chẳng hạn; những người già neo đơn ấy không có thân nhân để có thể cho lại, nên họ bán hết, bán sạch, với giá cao hơn bán đồ cũ, đồ thừa của Garage Sale, Yard Sale, hay Moving Sale

Và người Mỹ đi Estate Sale như đi hội chợ, nhất là Estate Sale ở những khu nhà giàu. Ngay từ sáng sớm thiên hạ đã xếp hàng ghi tên, xe đậu dài hai ba blocks đường. Tới giờ mở cửa, người ta tranh nhau mua. Sau đó bưng bê nườm nượp, náo nức như được chia của.

Câu chuyện về Estate Sale như một hiểu biết thêm về đời sống Mỹ trong đầu óc mới tới định cư của tôi. Rồi thời gian và cuộc sống cá nhân, gia đình quay cuồng theo cơm áo gạo tiền nên chả nhớ gì tới Estate Sale nữa.

Cho tới một sáng cuối thu, đã bảy giờ nhưng mặt trời còn chưa ló dạng. Không gian yên ắng tới chỉ nghe mỗi tiếng đồng hồ tích tắc trên tường. Ngoài cửa sổ, sương còn phủ ngọn đồi sau nhà mờ ảo màu lá vàng phai. Không gian đẹp nhưng buồn quá, nhất là cái lạnh đã len lỏi về, đậu trên những ngón tay cảm giác điêu tàn.

Tôi đi thay quần áo để lên đường, đi giúp một ông bạn già. Hôm nay ổng bán Estate Sale. Tuy hẹn chín giờ nhưng tôi đi sớm để có thời gian ngồi uống với ông bình trà. Bởi đêm qua thao thức về ông, tôi nghĩ sau hôm nay, có thể là lần cuối tôi gặp ông trong đời. Nhớ lại, tôi quen biết ông chừng năm, bảy năm trước, dịp tôi phỏng vấn Cựu Thiếu tướng Đỗ Kế Giai ở Trung tâm sinh hoạt cao niên trong thành phố. Bữa đó, chính ông đã đến bắt tay tôi trước, hỏi tôi có phải là Phan mà ông thường đọc đó không? Tôi có cảm tình ngay với một người lớn tuổi, hiền lành, đôn hậu. Tình thân chưa có nhưng lòng cảm mến thì nhiều, tôi cho ông số điện thoại để tiếp tục nói chuyện vào dịp khác bởi tôi đang bận với cuộc phỏng vấn…

Rồi tình thân nảy nở sau những lần ông mời tôi đi uống cà phê, rất thỉnh thoảng, nhưng ông thực sự có hiện diện trong tôi như một người bạn mà tôi thường tự trách là ít thăm hỏi ông, hay mời ông đi uống ly cà phê. Giao tiếp với người già chỉ mất ít thời gian mà được lợi rất nhiều về kiến thức và kinh nghiệm sống. Biết thế, nhưng khi có thời gian rảnh thì tôi vẫn đi chơi với bạn trẻ nhiều hơn; Chỉ khi cần hỏi, là cần tới người già thì tôi mới nhớ tới ông, gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê… để hỏi. Tôi là một con người hiện đại qua cách tìm thông tin là biết hỏi ai; và ông bạn già là người thuộc thế hệ cũ qua việc sẵn sàng cho không kiến thức, kinh nghiệm tích lũy cả đời. Sự cho và nhận co giãn theo tuổi đời thì tôi co ông giãn. Đó là ý nghĩ hôm trời mới chớm thu, tôi gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê vào một sáng cuối tuần. Hôm đó, tôi không có gì để hỏi ông mà chỉ là bỗng nhớ tới một người bạn mà quỹ thời gian của người đó không còn nhiều nên tôi dành thời gian rảnh rỗi có được cho ông

Hôm đó ông nói với tôi là, “…anh cũng đã già.” Tôi tin nhận xét của ông vì tôi đã vừa từ chối bạn bè trang lứa rủ nhau đi nông trại của một người bạn từ sáng sớm để hạ một con dê và nhậu tới chiều. Chắc chắn là một cuộc vui, nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn. Bạn bè chưa già thì còn dịp khác để gặp. Nhưng ông bạn già hiu hắt như gió thu, hôm tình cờ gặp nhau ngoài chợ, lòng tôi bất an sau khi chia tay

Hôm đầu thu đó, hỏi thăm ra mới biết, vợ ông đã qua đời hồi hè. Ông không cho tôi biết vì bà đi thăm con gái với cháu ngoại bên Cali, bị đột qụy và mất luôn ở bên ấy. Ông muốn đưa bà về Dallas để lo ma chay vì bà đã sống ở Dallas mấy chục năm. Nhưng người con trai ông sống ở Dallas thì lại muốn em gái lo ma chay cho mẹ luôn bên Cali cho tiện. Cái lý của anh ta đưa ra là chết ở Mỹ thì lo ma chay ở đâu cũng chỉ là cái nhà quàn như nhau…

Tôi chỉ quen biết ông như một người viết và một độc giả, chưa bao giờ tôi uống với ông một ly bia vì ông không rượu bia, không thuốc lá. Nhưng hôm đầu thu đó, ông tự tay mượn điếu thuốc lá đang cháy dở trên tay tôi; ông hút một hơi thuốc thật sâu, rồi trả lại tôi. Tôi sợ ông sặc, nhưng ông không sặc như tôi sợ. Ông nhả khói chậm rãi, và chìm vào tâm sự, “Tôi chưa bao giờ nói với anh, cũng không nghĩ tới chuyện nói với ai. Nhưng nỗi buồn trong tâm khảm tôi lớn dần như mầm bệnh ung thư tới hồi bộc phát. Tôi biết là trước sau gì cũng chết, tôi không sợ chết, chỉ buồn lòng người làm cha mà không biết dạy con mình…”

“…Vợ chồng tôi chỉ có hai người con. Lo được cho thằng lớn ăn học tới ra đại học không phải nợ tiền học đồng nào. Nó đi làm, lãnh lương cất riêng vào trương mục nhà băng của nó. Ngày ngày vẫn về nhà ăn, ở, cha mẹ lo. Nó cho đó là lối sống Mỹ, và nó chọn cách sống ấy.

"Cha mẹ đừng tọc mạch vào thu nhập của con cái". Nhưng khi nó muốn lấy vợ thì nó chọn lối sống của người Việt là dù sống ở đâu trên địa cầu thì chuyện cưới hỏi của con cái, cha mẹ người Việt cũng đứng ra lo cho con.

Thế là vợ chồng tôi lo cưới vợ cho con trai. Tôi không lấy gì làm buồn lòng vì cha mẹ tôi cũng đi cưới vợ cho tôi khi xưa. Nhưng rồi con tôi muốn mua nhà. Nó trình bày với vợ chồng tôi, nó mua nhà trăm rưỡi, cần mượn nhà băng một trăm ngàn, nếu trả trong ba mươi năm thì tổng số tiền nó phải trả cho nhà băng lên tới ba trăm ngàn. Nghĩa là một trăm ngàn vốn với hai trăm ngàn tiền lời trong ba mươi năm. Nó muốn cha mẹ giúp đỡ cho nó mượn một trăm ngàn, để nó trả dứt căn nhà ngay khi mua, không phải trả tiền lời cho nhà băng. Nếu nó phải trả ra số tiền ba trăm ngàn trong ba mươi năm, thì mười năm cho một trăm ngàn. Nó sẽ trả cho cha mẹ một trăm ngàn trong mười năm là khả năng có thể.

Tôi bắt đầu thất vọng về con trai tôi. Vì gom hết tiền 401-K của cha mẹ thì đủ một trăm ngàn cho nó mượn. Vợ chồng đã về hưu thì tiền già gói gém cũng đủ sống, nhưng tiền đâu lo cho con em nó còn trong đại học để khỏi mượn nợ học như nó? Tôi suy nghĩ nhiều đêm, đằng nào cũng mất con rồi! Đó là cái giá phải trả cho mưu cầu tương lai của con cái. Tôi đưa nó đến Mỹ chứ tự nó đâu đi một mình được. Tôi sinh ra nó, chứ nó đâu tự xuất hiện trên đời này được… Nhưng tôi thất bại trong chuyện dạy nó sống đùm bọc với người thân. Tôi có lỗi đã để nó hấp thụ lối sống ích kỷ của xứ sở này. Đằng nào tôi cũng mất con rồi. Nếu đồng ý cho nó mượn một trăm ngàn không tiền lời là tôi đã thẳng thắn nhìn nhận mình thua cuộc; không bao giờ dạy được con quay lại lối sống đùm bọc nhau của người Việt mình nữa. Nhưng từ chối nó… thì tôi mất luôn vợ! Vì mẹ nào chả thương con, thương càng mù quáng tình mẫu tử càng lên ngôi.

Nó trả lời cho tôi câu hỏi, ‘tiền đâu để lo cho em nó?’ ‘Thì ba mẹ lấy tiền con trả hàng tháng để lo cho nó.’ Tôi định hỏi câu hỏi quan trọng nhất theo kinh nghiệm của tôi là, ‘Nhưng con có chắc là con sẽ trả cho ba mẹ hàng tháng. Hay trả vài tháng… rồi quên luôn?’

Tôi thương vợ tôi nên đã làm điều tôi biết trước nhưng vẫn làm là tôi cho con trai tôi mượn một trăm ngàn. Vợ tôi mất tinh thần nhiều năm sau đó vì đúng là nó không trả. Nhưng chúng tôi được trời phật cho lại đứa con gái muộn màng. Nó là nguồn an ủi, niềm vui còn lại cho vợ chồng tôi. Lúc nào nó cũng vui vẻ nói là ba mẹ chết rồi thì tài sản cũng để lại cho anh em con thôi. Thì anh Hai cần trước thì anh Hai lấy trước. Ba mẹ đừng có giận anh Hai nữa, chỉ tổn hao sức khoẻ cho ba mẹ thôi. Còn con, nợ học thì ai đi học ở Mỹ mà không nợ. Chừng con ra trường thì con trả. Ba mẹ đừng lo nữa…

Con bé lạc quan nói sao làm vậy. Về sau, nó lấy chồng bên Cali nên về Cali sống. Vợ tôi muốn bán nhà, dọn về Cali ở với con gái thì thằng con trai không cho đi vì bà nội phải ở Dallas để trông con cho vợ chồng nó đi làm…

Đến cái chết đột ngột của mẹ nó. Tôi muốn đưa bà ấy về Dallas để lo ma chay vì bà ấy sống ở đây đã như là quê hương. Nó ngại tốn kém nên lý lẽ bất dung tình với cả cha mẹ. Tôi không buồn sao được anh…

Ôi, cái hôm đầu thu đó! Nhớ lại sao mà buồn. Và tại sao lại có hôm nay, tôi đến giúp ông bạn bán Estate Sale, bán hết gia tài một lần để giã biệt. Buổi chiều cuộc đời như không gian thu tràn ngập lá vàng bay, những nảy nở mùa xuân, khoe sắc hạ, thu úa, đông về… Người ta có sống tới trăm tuổi thì mùa thu thứ một trăm của cuộc đời cũng phải rời bỏ ngôi nhà không cần bật đèn giữa nửa đêm cũng biết lối đi tới nơi muốn tới; bán bỏ cả cái thìa khuấy ly cà phê mỗi sáng đã không thể nhớ nổi nó có trong nhà từ bao giờ mà người gia chủ chỉ nhớ chắc là khuấy ly cà phê bằng cái thìa khác sẽ không ngon; bức tranh mua garage sale có vài đồng bạc hồi mới qua Mỹ, nhưng không có nó trên tường nhà thì cứ tưởng mình đang ở chơi nhà bạn, hay nhà bà con chứ không phải nhà mình; đến tiếng cái đồng hồ nhà mình cũng khác hẳn tiếng đồng hồ nhà khác mà chỉ có mình phân biệt được… lại còn nắm đất quê hương trên bàn thờ, hồi ra đi mình mang theo để nhớ đường về. Nhưng nó nằm im lặng đã bốn mươi năm. Bây giờ người đem nó đi còn gởi lại nắm xương ở quê người thì nắm đất quê hương ấy trở thành oan nghiệt. Cho không ai lấy, bán chẳng ai mua, mà ném qua cửa sổ thì hóa ra mình đã biến thành thú vật.

Tôi ứa nước mắt trên tay lái, làm sao ông bạn tôi có thể sống sau hôm nay khi chính tay tôi bán hết những gì đã gắn bó với ông cả đời. Tôi, chính tôi, đã tiếp tay thần chết sớm bắt ông rời bỏ thói quen và kỷ niệm; rồi rời bỏ tới người thân; cuối cùng là rời bỏ cuộc đời… Nhưng nhớ lại tâm sự đầu thu của ông, ông đi dự đám tang của vợ ông bên Cali như người quen biết cũ, mấy chục năm vợ chồng còn lại cái trống không trong lòng già; con trai ông đi dự đám tang của mẹ dửng dưng đến mức đường về, anh ta nhắc ông trên phi cơ là ba phải làm di chúc căn nhà lại cho con, vì ba đi đột ngột như má thì chính phủ lấy nhà…

Tôi nghĩ chắc anh ta không chỉ muốn lấy căn nhà đã trả hết mà muốn lấy luôn cả phần bảo hiểm nhân thọ của cha nên mới chọc giận ông đúng thời điểm tinh thần và thể lực của ông suy kiệt nhất sau mấy ngày đám tang bên Cali. Tôi biết anh ta, có gặp mặt vì Dallas đâu có mấy nhà hàng của người Việt. Nhưng chưa chào hỏi anh bao giờ để cất giữ bí mật cho cha anh – là bạn tôi. Anh là ai trong gia đình lớn của anh, gia đình nhỏ của anh, trong xã hội anh đang sống… tôi không quan tâm tới địa vị hay tên tuổi của anh ở địa phương. Tôi chỉ biết là tôi đã có lỗi với một người không có lỗi gì với tôi là anh. Tôi đã đồng ý với con gái của ông bạn, dù chỉ nghe ông kể, “…con còn phải đi làm và lo lắng cho gia đình con. Con không thể chăm sóc cho ba mỗi ngày như má. Nhưng má mất rồi thì ba không thể ở một mình. Ba có chuyện gì, không ai biết, không ai hay… làm sao con yên tâm. Con xin ba giao hết nhà cửa cho anh Hai… muốn làm gì làm bên Dallas. Ba về Cali với con. Ba phải ở viện dưỡng lão vì con không thể và không có thời gian để lo cho ba như má. Nhưng vài hôm con sẽ có thời gian ghé thăm ba một, hai tiếng đồng hồ; con nấu được gì ngon, con đem vô cho ba ăn… ba có chuyện gì, người chăm sóc cho ba sẽ báo ngay cho con, con vô ngay với ba…

Tôi có tào lao lắm không khi khi không lên tiếng về chuyện nhà người khác? Tôi nói với ông hôm đầu thu, “Chia buồn với ông về sự mất mát người thân nhất của ông mà tôi không biết, cho dù ông có cho hay thì tôi chắc cũng không có điều kiện bay qua Cali để viếng tang của bà. Thôi thì ngày nào còn sống hãy tính chuyện đời cho xong để êm xuôi khi ra đi. Ông bà đã giúp con trai không phải nợ tiền học. Tôi tính nhanh là đã cho anh ta năm chục ngàn. Ông bà cho mượn một trăm ngàn mua nhà – và không hoàn lại. Vậy là ông bà đã cho con trai một trăm năm chục ngàn. Nên bây giờ ông bán căn nhà đã trả hết mà ông đang ở, cũng cỡ một trăm năm chục ngàn. Số tiền đó cho hết con gái, là công bằng với con cái.

Ông về Cali sống với đề nghị của con gái là hoàn toàn hợp lý. Số tiền bảo hiểm nhân thọ của vợ ông, gởi con gái để lo cho ba những ngày cuối đời ba, lo cả hậu sự cho ba. Thừa thiếu gì thì tôi tin là con gái ông không tính toán với ông. Còn phần bảo hiểm nhân thọ của ông thì di chúc lại cho con gái. Nhưng chỉ nhờ cô ta quản lý số tiền đó để về sau chia đều cho hết cháu nội, cháu ngoại của ông bà. Cứ đứa nào vô đại học thì được nhận một khoản tiền do ông bà để lại cho con cháu ăn học. Tôi biết, với đà lạm phát và trượt giá ở nước Mỹ thì số tiền học bổng miễn hoàn lại cho con cháu sẽ không nhiều, nhưng rất có ý nghĩa về mặt tinh thần với đời thứ ba của gia đình ông trên nước Mỹ…

Câu chuyện đầu thu mới đó mà đã cuối thu rồi! Ông bạn tôi đúng là người độ lượng như tôi đã tin ông như thế! Ông giao căn nhà cho con dâu để cho mướn kiếm thêm tiền chợ cho cháu nội ông được sống sung túc hơn. Ông di chúc lại căn nhà cho con dâu của ông chứ không bán. Giấy tờ xác quyết là tài sản riêng của con dâu, “để nhỡ… vợ chồng con xảy ra chuyện bất trắc gì sau khi ba mất. Thì ba mẹ chỉ giúp được con một chỗ ở để nuôi mấy đứa cháu nội của ba mẹ. Cảm ơn con.”

Ông cho hết con gái khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của mẹ cô ấy. Ông nghe tôi về khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của ông. Ông chỉ còn giữ lại hàng hà kỷ niệm trong từng đồ vật mà tôi đang bán ra cho những người không quen biết. Thế nên mắt ông lạc thần trông theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông lần cuối khi ra cửa một mái ấm gia đình đã tới hồi kết.

Buổi sáng một ngày cuối thu mà tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh một người đàn ông biệt xứ lúc cuối đời, tay khép lại cánh cửa nhà mình lần cuối, bình thản nói với vợ, “thôi, mình đi nghe em…” là di ảnh của bà mà ông kẹp ở nách để khoá cửa ra đi...

Ngoài đường, những trang trí cho ngày lễ Halloween đã lên đèn dọc lối đi. Tôi nhìn ông thả bộ ra xe mà thấy một kiếp người đến với cuộc đời cách nay tám mươi năm, chỉ có tiếng khóc là gia tài thì hôm nay là món cuối cùng Estate Sale. Bởi ông trầm ngâm buổi sáng, thở dài buổi trưa, rồi ngấn lệ buổi chiều theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông ra đi. Nhưng cuối ngày ông lại mỉm cười với di ảnh vợ lúc khoá cửa, cái nháy mắt tinh nghịch của ông với di ảnh bà là bằng chứng ông đến với cuộc đời này bằng một tiếng khóc, nhưng khi ra đi ông đã đem theo một người tình. Tôi nhìn theo ông ấy tan vào thế giới ma quỷ và màn đêm phủ về. Nhìn lại mình sau một ngày tiếp tay thần chết, nách tôi kẹp chai rượu thần chết thưởng cho tôi nhưng quân sĩ của thần chết đã giao lộn vào nhà một người không uống rượu nên phải nằm chờ tới Estate Sale của ông bạn.

Tới Estate Sale của tôi, cũng là kinh doanh từ vốn một tiếng khóc chào đời, tôi sẽ kẹp nách mang theo được gì lúc ra đi? Chỉ biết chai rượu thường nhưng để lâu năm cũng ngon như nước cam tuyền… từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau.     Đâu đó là thơ Bùi Giáng. Nên, uống xong ly rượu cùng nhau/ hẹn rằng mãi mãi quên nhau muôn đời… Khi hiểu được thơ Bùi Giáng thì cuộc đời coi như đã tàn thu. Còn bạn?